Thuốc Avelox 400mg Bayer điều trị nhiễm khuẩn (1 vỉ x 5 viên)

  • Muaday.vn
  • 26 Tháng 01 2026
  • 58 phút
Thuốc Avelox 400mg Bayer điều trị nhiễm khuẩn (1 vỉ x 5 viên)
Mô tả

Thuốc Avelox được sản xuất bởi Công ty Bayer Pharma AG. Thuốc có thành phần chính là moxifloxacin, được chỉ định trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn do những dòng vi khuẩn nhạy cảm gây ra trong các trường hợp như nhiễm khuẩn đường hô hấp, viêm phổi mắc phải trong cộng đồng, viêm da và tổ chức dưới da, nhiễm trùng ổ bụng có biến chứng, điều trị các bệnh viêm vùng chậu mức độ nhẹ đến trung bình, viêm xoang cấp.

Danh mục Thuốc
Thương hiệu Đức Bayer
Số đăng ký 400115400723
Dạng bào chế Viên nén bao phim
Quy cách Hộp 1 vỉ x 5 viên
Thành phần Moxifloxacin
Nhà sản xuất Đức
Nước sản xuất Đức
Thuốc cần kê toa

Thành phần của Thuốc Avelox 400mg

Thông tin thành phần Hàm lượng
Moxifloxacin 400mg

Công dụng của Thuốc Avelox 400mg

Chỉ định

Thuốc Avelox được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:

Ðiều trị bệnh nhiễm khuẩn do những dòng vi khuẩn nhạy cảm gây ra trong các trường hợp liệt kê dưới đây:

  • Nhiễm khuẩn đường hô hấp.
  • Viêm phổi mắc phải trong cộng đồng (với mức độ từ nhẹ đến trung bình) do Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae hoặc Moraxella catarrhalis gây ra.
  • Viêm da và tổ chức dưới da không có biến chứng do Staphylococcus aureus hoặc Streptpcoccus pyogenes gây ra.
  • Nhiễm trùng da và tổ chức dưới da có biến chứng (bao gồm cả nhiễm trùng bàn chân do bệnh đái tháo đường).
  • Nhiễm trùng ổ bụng có biến chứng bao gồm cả các trường hợp nhiễm trùng do nhiều loại vi khuẩn gây ra như áp xe.
  • Điều trị các bệnh viêm vùng chậu mức độ nhẹ đến trung bình (ví dụ: Nhiễm trùng đường sinh dục trên của nữ, bao gồm viêm vòi trứng và viêm nội mạc tử cung) mà không có áp xe vòi trứng hoặc hố chậu. Viên nén bao phim Avelox 400mg không khuyến cáo sử dụng đơn trị liệu bệnh lý viêm vùng chậu mà nên phối hợp thuốc với một kháng sinh diệt khuẩn thích hợp khác (như cephalosporin) do tăng sự kháng thuốc với moxifloxacin của Neisseria gonorrhoeae trừ khi có thể loại trừ Neisseria gonorrhoeae kháng moxifloxacin.
  • Viêm xoang cấp do vi khuẩn Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae hoặc Moraxella catarrhalis gây ra.
  • Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có Avelox liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng (xem mục Cảnh báo và thận trọng) và viêm xoang cấp tính do vi khuẩn ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng Avelox cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.
  • Đợt cấp của viêm phế quản mạn do vi khuẩn Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae, Haemophilus parainfluenzae, Klebsiella pneumoniae, Staphylococcus aureus hoặc Moraxella catarrhalis gây ra. Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có Avelox liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng (xem mục Cảnh báo và thận trọng) và đợt nhiễm khuẩn cấp của viêm phế quản mạn tính ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng Avelox cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.

Nên xem xét cẩn thận các chỉ dẫn chính thức về sử dụng thích hợp các kháng sinh.

Dược lực học

Nhóm tác dụng dược lý: Kháng sinh nhóm quinolon, fluoroquinolone.

Cơ chế tác dụng

Moxifloxacin, 8-methoxyl-fluoroquinolone là một kháng sinh phổ rộng có tác dụng diệt khuẩn. Trên in vitro moxifloxacin có phổ tác dụng rộng đối với các vi khuẩn Gram dương và âm, vi khuẩn kỵ khí, vi khuẩn bền vững với acid, vi khuẩn không điển hình như Mycoplasma spp, Chlammydia spp Legionella spp.

Tác động diệt khuẩn là do moxifloxacin can thiệp vào men topoisomerase II và IV, đây là các men cần thiết kiểm soát hình học DNA và giúp sao chép và sửa chữa DNA.

Tác dụng diệt khuẩn của moxifloxacin phụ thuộc vào nồng độ thuốc. Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu thông thường tương đương với nồng độ ức chế vi khuẩn tối thiểu.

Moxifloxacin có tác dụng chống lại các vi khuẩn kháng Beta-lactam và macrolide. Các nghiên cứu trên mô hình nhiễm trùng động vật cho thấy thuốc có hoạt tính cao trong in vivo.

Kháng thuốc

Những cơ chế kháng thuốc làm bất hoạt penicillin, cephalosporin, aminoglycoside, macrolide và tetracycline không ảnh hưởng tới hoạt tính diệt khuẩn của moxifloxacin. Không có đề kháng chéo giữa moxifloxacin và những thuốc này. Không thấy kháng thuốc qua trung gian plasmid cho đến nay.

Người ta nhận thấy phân nửa C8-Methoxyl đóng góp vào tăng hoạt tính và giảm chọn lọc của sự đột biến kháng thuốc đối với các vi khuẩn Gram dương so với phân nửa C8-H. Sự có mặt của chất thay thế bicycloamine tại vị trí C7 ngăn cản sự bơm ra (efflux) chủ động, một cơ chế kháng thuốc fluoroquinolone.

Các nghiên cứu trên in vitro đã chứng minh được sự kháng thuốc đối với moxifloxacin phát triển chậm do nhiều bước đột biến. Chỉ một tỷ lệ kháng thuốc rất thấp được chứng minh (10-7 - 10-10). Khi vi trùng tiếp xúc nhiều lần với moxifloxacin ở nồng độ dưới MIC cho thấy chỉ làm tăng nhẹ giá trị MIC.

Sự kháng thuốc chéo giữa các Quinolone cũng đã được theo dõi. Tuy nhiên, một số vị khuẩn gram dương và vi khuẩn kỵ khí kháng lại các quinolone khác nhưng vẫn nhạy cảm với moxifloxacin.

Tác dụng lên quần thể vi khuẩn đường tiêu hoá ở người

Trong 2 nghiên cứu trên người tình nguyện, sau khi dùng moxifloxacin theo đường uống, các chủng thường trú dưới đây đã bị thay đổi: E.coli, Bacillus spp., Bacteroides vulgatus, Enterococci và Klebsiella spp cũng như các vi khuẩn kỵ khí khác như Bifidobacterium, Eubacterium Peptostreptococcus. Sự thay đổi này trở về bình thường sau 2 tuần. Không tìm thấy độc tính của Clostridium difficile.

Dược động học

Hấp thu và sinh khả dụng

Sau khi uống, moxifloxacin dạng viên nén được hấp thu một cách nhanh chóng và gần như hoàn toàn. Sinh khả dụng tuyệt đối của thuốc đạt khoảng 91%.

Dược động học của thuốc đạt được trong giới hạn 50 - 1200mg sau khi dùng một liều duy nhất hoặc liều 600mg một lần hàng ngày trong 10 ngày. Nồng độ ổn định đạt được trong vòng 3 ngày. Sau khi uống liều 400mg, nồng độ đỉnh ở mức 3,1mg/l đạt được trong trong 0,54 giờ. Nồng độ cao nhất và thấp nhất trong huyết tương (khi uống 1 liều 400mg mỗi ngày) tương ứng là 3,2 và 0,6mg/l.

Sử dụng đồng thời moxifloxacin với thức ăn làm kéo dài thời gian đạt tới nồng độ đỉnh trong xấp xỉ 2 giờ và làm giảm nhẹ nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 16%. Lượng hấp thu vẫn không đổi. Người ta thường dựa vào tỷ lệ AUC/MIC để dự đoán hiệu quả diệt khuẩn của quinolone, tuy nhiên nó không tương xứng với hiệu quả trên lâm sàng. Do vậy, có thể uống Avelox ngoài bữa ăn.

Sau khi dùng một liều đơn 400mg truyền tĩnh mạch trong vòng 1 giờ, nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được vào khoảng 4,1mg/l vào lúc kết thúc thời gian truyền, tăng xấp xỉ 26% liên quan đến dùng qua đường uống. Sự phơi nhiễm của thuốc, xét về chỉ số AUC là 39mg/h/l sau khi truyền tĩnh mạch chỉ cao hơn 1 chút so với 35 mg/h/l sau khi uống, trong điều kiện thuốc được hấp thu gần như hoàn toàn và sinh khả dụng đạt 91%.

Sau khi tiêm tĩnh mạch liều nhắc lại (truyền tĩnh mạch trong 1 giờ) với liều 400mg, nồng độ đỉnh và đáy trong huyết tương ổn định tương ứng ở vào khoảng 4,1 đến 5,9 và 0,43 đến 0,84mg/l. Tại nồng độ ổn định, sự phân bố của thuốc trong khoảng thời gian giữa 2 liều là xấp xỉ 30% cao hơn sau khi dùng liều đầu tiên. Trên bệnh nhân, nồng độ ổn định trung bình là 4,4mg/l đạt được ngay sau truyền tĩnh mạch (truyền trong vòng 1 giờ).

Phân bố

Moxifloxacin được phân bố nhanh chóng đến các khoang ngoại bào. Sự phơi nhiễm thuốc, dựa vào chỉ số AUC (AUCnorm = 6kg/h/l) là khá cao về mặt thể tích phân bố tại nồng độ ổn định (Vss) xấp xỉ là 2l/kg. Nồng độ đỉnh trong tuyến nước bọt có thể đạt được cao hơn nồng độ trong huyết tương. Trong các nghiên cứu trên in vitro và thử nghiệm ngoài cơ thể, trong khoảng từ 0,02 đến 2mg/l, người ta xác định được lượng gắn kết với protein xấp xỉ là 45%, không phụ thuộc vào nồng độ của thuốc. Moxifloxacin chủ yếu gắn kết vào albumin huyết tương. Do tỷ lệ gắn kết với protein thấp nên nồng độ đỉnh ở dạng tự do ở mức cao > 10 lần nồng độ MIC.

Moxifloxacin đạt được nồng độ cao tại các mô như phổi (dịch biểu mô, đại thực bào phế nang, mô sinh học), các xoang (xoang hàm và xoang sàng, polyp mũi) và các tổ chức viêm (dịch nốt phỏng), tại đó nồng độ của thuốc vượt quá nồng độ trong huyết tương. Một lượng lớn thuốc ở dạng tự do được tìm thấy trong các cơ quan chứa nhiều dịch (tuyến nước bọt, cơ, mô dưới da). Bên cạnh đó, nồng độ thuốc cao cũng thấy tại các mô và dịch trong ổ bụng và đường sinh dục của nữ.

Các nồng độ đỉnh và các tỷ lệ giữa nồng độ tại chỗ và huyết tương rất khác nhau đối với việc sử dụng thuốc theo đường uống hay tiêm truyền tĩnh mạch cùng một liều duy nhất 400mg.

Chuyển hoá

Moxifloxacin trải qua chuyển hóa sinh học pha II và được đào thải qua thận và mật dưới dạng thuốc không chuyển hoá cũng như dạng phức hợp sulfo (M1) và glucuronide (M2). M1 và M2 là chất chuyển hóa có ý nghĩa đối với người, cả hai đều là chất bất hoạt vi khuẩn.

Bất kể là thử nghiệm trên in vitro hoặc thử lâm nghiệm lâm sàng pha I nghiên cứu chuyển hoá dược động học tương tác với các thuốc khác, quá trình chuyển hoá sinh học pha có sự tham gia của hệ thống enzym Cytochrome P450. Không phụ thuộc vào đường dùng thuốc, cả 2 chất chuyển hóa M1 và M2 đều tìm thấy trong huyết tương ở nồng độ thấp hơn so với nồng độ thuốc ban đầu. Các nghiên cứu tiền lâm sàng tương ứng đã tiến hành với cả 2 chất chuyển hoá và nhận thấy chúng không có nguy cơ liên quan đến tính an toàn và khả năng hấp thu.

Thải trừ

Moxifloxacin được bài xuất từ trong huyết tương với thời gian bán huỷ là xấp xỉ 12h. Lượng thanh thải trung bình toàn thân sau khi dùng liều 400mg vào khoảng 179 đến 246ml/phút. Lượng thanh thải qua thận vào khoảng 24 -53ml/phút, cho thấy có thể các ống thận đã tái hấp thu một phần thuốc tại thận. Sử dụng đồng thời với ranitidin và probenecid không làm thay đổi độ thanh thải thuốc ở thận.

Sự cân bằng giữa lượng thuốc đưa vào ban đầu và các chất chuyển hoá qua pha II của moxifloxacin được tái hấp thu gần như hoàn toàn, xấp xỉ 96 - 98% không phụ thuộc vào đường dùng và không có dấu hiệu chất chuyển hoá của quá trình oxi hoá.

Người già

Dược động học của moxifloxacin không bị ảnh hưởng theo tuổi.

Giới tính 

Có khoảng 33% có sự khác biệt về dược động học (AUC, Cmax) của moxifloxacin giữa nam giới và nữ giới. Sự hấp thu thuốc không bị ảnh hưởng theo giới tính. Sự khác biệt này đối với AUC và Cmax có thể do cân nặng cơ thể khác nhau hơn là do giới tính. Điều này không có ý nghĩa trên lâm sàng.

Sự khác biệt về chủng tộc

Sự khác biệt về chủng tộc được thử nghiệm trên người da trắng, Nhật Bản, da đen và các nhóm chủng tộc khác. Không phát hiện thấy có sự khác biệt về dược động học liên quan đến chủng tộc.

Trẻ em và trẻ vị thành niên

Dược động học của moxifloxacin ở trẻ em chưa được nghiên cứu.

Suy chức năng thận

Dược động học của moxifloxacin không bị ảnh hưởng đáng kể ở những bệnh nhân suy chức năng thận (kể cả khi độ thanh thải creatinine < 30ml/phút/1,73m2 diện tích cơ thể) và ở những bệnh nhân phải lọc máu mãn tính như bệnh nhân chạy thận nhân tạo và bệnh nhân lọc màng bụng liên tục.

Suy chức năng gan

Nồng độ của moxifloxacin trong huyết tương ở những bệnh nhân suy chức năng gan ở mức độ vừa đến nặng (Child Pugh A đến C) không làm ảnh hưởng đến hiệu quả trên lâm sàng khi so sánh tương ứng với những người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân có chức năng gan bình thường.

Cách dùng Thuốc Avelox 400mg

Cách dùng

Thuốc dùng đường uống.

Nuốt nguyên cả viên thuốc với một lượng nước vừa đủ có thể uống thuốc trong hay ngoài bữa ăn.

Liều dùng

Liều lượng cho người lớn

Liều khuyên dùng là 400mg Avelox (viên nén hoặc dung dịch tiêm truyền) một lần mỗi ngày cho các chỉ định nêu trên và không dùng quá liều.

Thời gian điều trị

Nên xác định thời gian điều trị tùy theo mức độ nặng của chỉ định hay đáp ứng lâm sàng. Có thể sử dụng theo khuyến cáo chung dưới đây:

Viêm phổi mắc phải trong cộng đồng: 10 ngày.

Nhiễm trùng da và tổ chức dưới da không có biến chứng: 7 ngày.

Nhiễm trùng da và tổ chức dưới da có biến chứng tổng thời gian điều trị nối tiếp (truyền tĩnh mạch trước sau đó chuyển sang dùng đường uống): 7 - 21 ngày.

Nhiễm trùng ổ bụng có biến chứng tổng thời gian điều trị nối tiếp (truyền tĩnh mạch trước sau đó chuyển sang dùng đường uống): 5 - 14 ngày.

Nhiễm trùng hố chậu mức độ nhẹ đến vừa: 14 ngày.

Đợt cấp của viêm phế quản mạn: 5 ngày.

Viêm xoang cấp: 7 ngày.

Viên Avelox 400mg đã được nghiên cứu trong những thử nghiệm lâm sàng kéo dài đến 21 ngày điều trị (trong điều trị nhiễm trùng da và tổ chức dưới da có biến chứng).

Thông tin bổ sung cho các dân số đặc biệt

Người già

Không cần phải chỉnh liều ở người già.

Trẻ em và thanh thiếu niên

Hiệu quả và độ an toàn của Avelox ở trẻ em và thanh thiếu niên chưa được xác định.

Các chủng tộc khác nhau

Không cần chỉnh liều trong các nhóm dân tộc.

Suy gan

Không cần phải chỉnh liều ở bệnh nhân suy chức năng gan (xem thêm phần Cảnh báo và thận trọng khi sử dụng cho những bệnh nhân xơ gan).

Suy thận

Không cần phải chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận ở bất kỳ mức độ nào (kể cả khi độ thanh thải creatinine ≤ 30ml/phút/1,73m2) và trên bệnh nhân phải lọc máu kéo dài như chạy thận nhân tạo hoặc bệnh nhân ngoại trú thẩm phân phúc mạc liên tục.

Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.

Làm gì khi dùng quá liều?

Chỉ có một số giới hạn những dữ kiện về quá liều. Liều duy nhất lên tới 1200mg và những liều liên tục 600mg moxifloxacin trên 10 ngày đã được sử dụng trên người khỏe mạnh mà không có tác dụng phụ đáng kể nào. Trong trường hợp quá liều, cần thực hiện các biện pháp chăm sóc hỗ trợ khác bao gồm cả đo điện tim được chỉ định tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân.

Việc sử dụng than hoạt sớm ngay sau khi uống thuốc cũng có thể có tác dụng hạn chế sự tăng phơi nhiễm toàn thân của moxifloxacin trong trường hợp dùng quá liều.

Làm gì khi quên 1 liều?

Nếu bạn quên một liều thuốc, hãy dùng càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và dùng liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Lưu ý rằng không nên dùng gấp đôi liều đã quy định.

Tác dụng phụ

Khi sử dụng thuốc Avelox, bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR).

Các tác dụng ngoại ý (ADR) dựa trên các nghiên cứu lâm sàng với moxifloxacin 400mg (chỉ dùng uống và nối tiếp [IV/uống]/tiêm tĩnh mạch) sắp xếp theo CIOMS về các loại thường gặp (tổng quát n = 17.951 trường hợp trong đó có 4.583 trường hợp dùng nghiên cứu trị liệu nối tiếp hoặc tiêm tĩnh mạch, tại thời điểm tháng 5/2010) được liệt kê như sau: Các tác dụng không mong muốn ở mức "thường gặp” được quan sát với tần suất < 3% không kể triệu chứng nôn và tiêu chảy.

Các trường hợp ghi nhận được từ các nghiên cứu sau khi thuốc đưa ra thị trường (tại thời điểm tháng 5/2010) được in đậm và nghiêng trong bảng kê dưới đây:

Trong mỗi nhóm phân loại theo tần suất, các tác dụng không mong muốn được sắp xếp theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần. Các nhóm phân loại tần suất được quy ước như sau: Hay gặp (≥ 1/100 tới < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 tới < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 tới < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000).

Nhóm hệ cơ quan (MedDRA)Hay gặpÍt gặpHiếm gặpRất hiếm gặp
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinhBội nhiễm nấm   
Các rối loạn máu và hệ bạch huyết Thiếu máu
Giảm bạch cầu
Giảm bạch cầu trung tính
Giảm tiểu cầu
Tăng tiểu cầu nguyên phát
Kéo dài thời gian prothrombin/tăng chỉ số INR
Nồng độ thromboplastin bất thườngTăng nồng độ prothrombin/chỉ số INR giảm
Nồng độ prothrombin/INR bất thường
Các rối loạn trên hệ miễn dịch Phản ứng dị ứng
Ngứa
Phát ban ở da
Mày đay
Tăng bạch cầu ưa eosin
Phản ứng phản vệ/phản ứng dạng phản vệ
Phù dị ứng/phù mạch (kể cả phù thanh quản, có khả năng đe dọa tính mạng)
Sốc phản vệ/dạng phản vệ (có khả năng đe dọa tính mạng)
Các rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng Tăng lipid máuTăng đường huyết
Tăng acid uric máu
Hạ đường huyết
Các rối loạn trên tâm thần Các phản ứng lo âu
Tăng hoạt động thần kinh vận động/tâm trạng lo âu
Cảm xúc không ổn định
Trầm cảm (rất hiếm gặp các trường hợp nặng nhất có khả năng dẫn đến hành vi tự gây thương tích bản thân, như ý định tự tử hoặc cố gắng tự tử)
Ảo giác
Mất nhân cách
Các phản ứng loạn thần (có khả năng dẫn đến nặng nhất là tự gây thương tích bản thân, như ý định/ý nghĩ tự tử hoặc cố gắng tự tử)
Các rối loạn trên hệ thần kinhĐau đầu
Choáng váng
Dị cảm và rối loạn cảm giác
Rối loạn vị giác (kể cả mất vị giác rất hiếm khi xảy ra)
Lẫn lộn và mất phương hướng
Rối loạn giấc ngủ
Run
Chóng mặt
Tình trạng lơ mơ
Giảm cảm giác
Rối loạn khứu giác (bao gồm cả mất khứu giác hoàn toàn)
Giấc mơ bất thường
Rối loạn phối hợp vận động (kể cả khó khăn khi đi lại, đặc biệt do choáng váng hay chóng mặt, rất hiếm khi dẫn đến ngã bị chấn thương, nhất là ở người già)
Động kinh với nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau (bao gồm cả động kinh cơn lớn).
Mất tập trung
Các rối loạn về giọng nói
Mất trí nhớ
Bệnh lý thần kinh ngoại vi và đa dây thần kinh
Tăng cảm giác
Các rối loạn mắt Rối loạn thị giác (đặc biệt trong giai đoạn xảy ra các phản ứng trên hệ thần kinh trung ương) Mù thoáng qua (đặc biệt trong giai đoạn xảy ra các phản ứng trên hệ thần kinh trung ương)
Các rối loạn trên tai và mê đạo  Ù tai
Suy giảm thính lực bao gồm câm điếc (thường hồi phục)
 
Các rối loạn trên hệ tim mạchKéo dài khoảng QT ở bệnh nhân hạ kali máuKéo dài khoảng QT
Đánh trống ngực
Nhịp tim nhanh
Giãn mạch
Nhịp nhanh thất
Ngất
Tăng huyết áp
Hạ huyết áp
Loạn nhịp không xác định
Xoắn đỉnh*
Ngừng tim*
*(đặc biệt ờ những bệnh nhân đang mắc các bệnh nền tiền loạn nhịp nghiêm trọng như nhịp tim chậm có ý nghĩa lâm sàng, thiếu máu cục bộ cơ tim cấp tính)
Các rối loạn trên hệ hô hấp, lồng ngực và trung thất Khó thở (kể cả tình trạng hen)  
Các rối loạn tiêu hóaBuồn nôn
Nôn
Đau dạ dày và đau bụng
Tiêu chảy
Giảm cảm giác ngon miệng và thèm ăn
Táo bón
Rối loạn vị giác
Đầy hơi
Viêm dạ dày ruột (ngoại trừ viêm dạ dày ruột do ăn mòn)
Tăng amylase
Khó nuốt
Viêm miệng
Viêm ruột kết liên quan đến sử dụng kháng sinh (rất hiếm gặp các trường hợp liên quan đến các biến chứng đe dọa tính mạng)
 
Các rối loạn gan-mậtTăng các transaminaseSuy giảm chức năng gan (bao gồm cả tăng LDH)
Tăng bilirubin
Tăng gamma-glutamyl-transferase
Tăng phosphatase kiềm trong máu
Vàng da
Viêm gan (chủ yếu là ứ mật)
Có khả năng xảy ra viêm gan tối cấp dẫn đến suy gan đe dọa tính mạng (bao gồm cả các trường hợp tử vong)
Các rối loạn trên da và mô dưới da   Các phản ứng bọng rộp trên da như hội chứng Steven-Johnson hoặc hoại tử biểu bì nhiễm độc (có khả năng đe dọa tính mạng)
Các phản ứng trên hê cơ xương và mô liên kết Đau khớp
Đau cơ
Viêm gân
Tăng trương lực cơ và chuột rút
Yếu cơ
Đứt gân
Viêm khớp
Rối loạn dáng đi (gây ra bởi các triệu chứng trên cơ, gân hoặc khớp)
Trầm trọng thêm các triệu chứng của bệnh nhược cơ nặng
Các rối loạn trên thận và tiết niệu Mất nước (gây ra do tiêu chảy hay giảm lượng dịch đưa vào)Suy giảm chức năng thận
Suy thận (do mất nước, đặc biệt ở người già có trước các rối loạn trên thận).
 
Các rối loạn chung và các phản ứng xảy ra tại vị trí dùng thuốcPhản ứng tại vị trí tiêm và truyềnCảm giác không khỏe
Đau không xác định
Toát mồ hôi
Phản ứng tại vị trí truyền (viêm tắc tĩnh mạch).
Phù 
 
 

Những tác dụng không mong muốn sau đây thường xảy ra ở tần suất cao hơn trong nhóm bệnh nhân điều trị nối tiếp tiêm truyền tĩnh mạch hoặc uống:

Thường gặp

Tăng men gamma-glutamyl-transferase.

Không thường gặp

Nhịp nhanh thất, hạ huyết áp, phù, viêm ruột do kháng sinh (trong một số rất hiếm trường hợp có thể gây nguy hiểm đến tính mạng), lên cơn động kinh với các biểu hiện khác nhau trên lâm sàng (bao gồm cả những cơn động kinh cơn lớn), ảo giác, suy thận (trong một số trường hợp do việc thiếu nước dẫn đến suy thận chức năng, đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi đã có rối loạn chức năng thận trước đó).

Hướng dẫn cách xử trí ADR

Khi gặp tác dụng phụ của thuốc, cần ngưng sử dụng và thông báo cho bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.

Chống chỉ định

Mang thai, Dị ứng thuốc

Lưu ý khi sử dụng

Độ tuổi sử dụng: Trên 18 tuổi

  • Suy gan thận
  • Phụ nữ cho con bú
  • Phụ nữ có thai
  • Lái tàu xe

Bảo quản

Hạn sử dụng: 60 tháng

Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.

Để xa tầm tay trẻ em.