Thuốc Bifril 15mg Menarini điều trị tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim cấp (2 vỉ x 14 viên)
| Mô tả |
Thuốc Bifril là sản phẩm của A.Menarini Manufacturing Logistics and Services S.r.l có thành phần chính là Zofenopril calci. Thuốc Bifril dùng trong điều trị tăng huyết áp hay các trường hợp nhồi máu cơ tim. |
| Danh mục | Thuốc |
| Thương hiệu |
Menarini |
| Số đăng ký | 800110088023 |
| Dạng bào chế | Viên nén bao phim |
| Quy cách | Hộp 2 vỉ x 14 viên |
| Thành phần | Zofenopril |
| Nhà sản xuất | Ý |
| Nước sản xuất | Pháp |
| Thuốc cần kê toa | Có |
Thành phần của Thuốc Bifril 15mg
| Thông tin thành phần | Hàm lượng |
|---|---|
| Zofenopril | 15mg |
Công dụng của Thuốc Bifril 15mg
Chỉ định
Thuốc Bifril chỉ định điều trị trong các trường hợp sau:
- Tăng huyết áp: Bifril được chỉ định để điều trị tăng huyết áp mức độ từ nhẹ đến trung bình.
- Nhồi máu cơ tim cấp: Bifril được chỉ định cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp khởi phát trong vòng 24 giờ, có hoặc không có triệu chứng suy tim, huyết động ổn định và chưa được sử dụng thuốc tan cục máu đông.
Dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc ức chế men chuyển, mã ATC: C09AA15.
Hiệu quả điều trị của Bifril trên bệnh nhân tăng huyết áp và nhồi máu cơ tim cấp có thể là kết quả chính của việc ức chế hệ thống renin-angiotensin aldosteron trong huyết tương. Tác động úc chế men chuyển dụng angiotensin (Ki 04 n.M trên phổi thỏ khi sử dụng muối arginin của zofenoprilat) làm giảm nồng độ angiotensin II trong huyết tương, làm giảm hoạt tính có mạch và giảm tiết aldosteron.
Mặc dù mức giảm aldosteron thấp, vẫn có thể xuất hiện tình trạng tăng nhẹ nồng độ kali huyết thanh, kèm theo mất dịch và natri. Khi dừng phản hồi âm tính của angiotensin II lên quá trình tiết renin làm tăng hoạt tính renin huyết tương. Hoạt tính của men chuyển dạng angiotensin trong huyết tương giảm với tỉ lệ lần lượt là 53,4% và 74,4% vào 24 giờ sau khi sử dụng liều đơn 30 mg và 60 mg zofenopril canxi.
Sự ức chế men chuyển dạng angiotensin làm tăng hoạt tính của hệ kallikrein-kinin tại chỗ và trong tuần hoàn, làm giãn mạch ngoại vi thông qua quá trình hoạt hóa hệ prostaglandin. Cơ chế này cũng có thể liên quan đến tác dụng hạ huyết áp của zofenopril canxi và có thể là nguyên nhân của một số phản ứng bất lợi.
Trên bệnh nhân tăng huyết áp, sử dụng thuốc Bifril làm giảm cả huyết áp tư thế nằm và tư thế đứng với cùng một mức độ, mà không có hiện tượng tăng nhịp tim bù trừ. Mức kháng trung bình của thành mạch máu có xu hướng giảm sau khi sử dụng Bifril.
Trên một số bệnh nhân, cần điều trị một vài tuần để đạt mức hạ huyết áp tối ưu. Hiệu quả điều trị tăng huyết áp được duy trì trong suốt quá trình điều trị dài ngày.
Việc ngừng thuốc đột ngột không có mối tương quan với sự tăng huyết áp đột ngột. Chưa có các dữ liệu cập nhật liên quan đến tác động của Bifril lên tỉ lệ tử vong và tỉ lệ mắc bệnh ở các bệnh nhân tăng huyết áp.
Mặc dù tác dụng hạ áp đã ghi nhận được trên tất cả các chủng tộc, người da đen (thường là quần thể bệnh nhân tăng huyết áp có hoạt tính renin thấp) có mức đáp ứng với thuốc ức chế men chuyển thấp hơn so với các quần thể khác. Sự khác biệt này không còn nữa nếu sử dụng thuốc đồng thời với thuốc lợi tiểu.
Hiệu quả lâm sàng khi sử dụng Bifril cho bệnh nhân sau cơn nhồi máu có thể liên quan đến nhiều yếu tố như làm giảm nồng độ angiotensin II trong huyết tương (bằng cách này giúp hạn chế quá trình tái cấu trúc thất, một quá trình có thể ảnh hưởng xấu đến tiên lượng lâu dài của các bệnh nhân nhồi máu), và sự tăng nồng độ các chất giãn mạch trong huyết tương/mô (hệ prostaglandin-kinin).
Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng đã được thực hiện, so sánh zofenopril với giả được được thực hiện trên 1556 bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim và không được điều trị bằng phác đồ tiêu sợi huyết. Phác đồ được bắt đầu trong vòng 24 giờ và kéo dài trong 6 tuần. Ti suất xuất hiện tiêu chí đầu ra kết hợp (suy tim nặng và/hoặc tử vong sau 6 tuần) giảm trên nhóm bệnh nhân điều trị bằng zofenopril (zofenopril 7,1%, giả dược 10,6%). Sau 1 năm, tỉ lệ sống được cải thiện trên nhóm bệnh nhân điều trị bằng Bifril.
Thông tin khác:
Hai thử nghiệm lâm sàng lớn, ngẫu nhiên, có kiểm soát: ONTARGET (Đơn trị liệu Telmisartan và phối hợp với Ramipril) và NEPHRON-D (nhóm bệnh nhân thận liên quan đến tiểu đường) đã được thiết lập nhằm đánh giá việc sử dụng phối hợp của 1 thuốc ức chế men chuyển với một thuốc ức chế thụ thể agiotensin II.
ONTARGET là nghiên cứu được thiết kế cho những bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch hoặc bệnh mạch máu não, hoặc tiểu đường tuýp 2 có kèm theo tổn thương cơ quan đích. NEPHRON-D là một nghiên cứu trên bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 và bệnh nhân suy thận do tiểu đường.
Các nghiên cứu này cho thấy không có tác dụng có lợi đáng kể trên thận và/hoặc tim mạch và tỷ lệ sống còn trong khi đó làm tăng nguy cơ tăng kali máu, tổn thương thận cấp và/hoặc hạ huyết áp so với đơn trị liệu.
Do có đặc tính dược lực học tương tự, kết quả này cũng được áp dụng cho các thuốc ức chế men chuyển và ức chế thụ thể angiotensin II khác.
Do vậy, không nên dùng phối hợp các thuốc ức chế men chuyển và ức chế thụ thể angiotensin II cho các bệnh nhân có bệnh lý về thận liên quan đến tiểu đường.
ALTITUDE (Thử nghiệm lâm sàng của Aliskiren trên bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có đánh giá bệnh lý tim mạch và thận) là 1 nghiên cứu được thiết kế để đánh giá hiệu quả của việc đưa thêm aliskiren vào liệu pháp điều trị chuẩn bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể angiotensin II cho bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 và bệnh thận mãn tính, bệnh lý tim mạch hoặc cả hai.
Nghiên cứu này được kết thúc sớm vì nguy cơ tác dụng phụ tăng cao. Tỷ lệ tử vong do bệnh lý tim mạch và đột quỵ cao hơn ở nhóm dùng aliskiren so với nhóm dùng giả dược và tần suất gặp các tác dụng phụ cũng như tác dụng phụ nghiêm trọng (tăng kali máu, hạ huyết áp, rối loạn chức năng thận) ở nhóm dùng aliskiren cao hơn so với nhóm dùng giả dược.
Dược động học
Zofenopril là một tiền thuốc, do dạng thuốc có hoạt tính là dạng thuốc không có gốc sulfhydryl, zofenoprilat, chất này tạo thành từ phản ứng thủy phân nhóm thio-ester.
Hấp thu
Zofenopril hấp thu nhanh, gần như hoàn toàn qua đường uống và chuyển hóa gần như hoàn toàn thành zofenoprilat, thuốc này đạt nồng độ đinh sau 1,5 giờ sau khi uống zofenopril. Động học liều đơn tuyến tính trong khoảng liều từ 10 đến 80 mg zofenopril và không có hiện tượng tích lũy sau khi dùng liều 15-60 mg zofenopril trong vòng 3 tuần.
Sự có mặt của thức ăn trong ống tiêu hóa làm giảm tốc độ nhưng không ảnh hưởng đến mức độ hấp thu và diện tích dưới đường cong nồng độ (AUC) của zofenoprilat. Do đó dược động học của thuốc gần như tương tự nhau khi uống lúc no hoặc lúc đói.
Phân bố
Sau khi sử dụng một liều zofenopril gắn phóng xạ, kết quả đo trong điều kiện ex-vivo cho thấy khoảng 88% hoạt tính phóng xạ được gắn vào protein huyết tương và thể tích phân bố ở trạng thái cân bằng là 96 lít.
Chuyển hóa
Sau khi sử dụng một liều zofenopril gắn phóng xạ, có tám chất chuyển hóa, chiếm 76% hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu người. Chất chuyển hóa chính là zofenoprilat (22%), sản phẩm chuyển hóa của nhiều con đường, bao gồm liên hợp glucoronic (17%), nối vòng và liên hợp glucoronic (13%), liên hợp cystein(9%) và methyl hóa ở vị trí sulfur của nhóm thiol (8%).
Thời gian bán thải của zofenoprilat là 5,5 giờ và độ thanh thải toàn phần là 1300ml/phút sau khi uống zofenopril canxi.
Thải trừ
Khi sử dụng qua đường tiêm, zofenoprilat có gắn phóng xạ thải trừ trong nước tiểu (76%) và phân (16%), trong khi nếu sử dụng một liều đường uống của zofenopril có gắn phóng xạ, 69% và 26% hoạt tính phóng xạ lần lượt được thu hồi được trong nước tiểu và phân. Điều này cho thấy thuốc thải trừ qua cả hai con đường (gan và thận).
Dược động học trên người cao tuổi
Trên người cao tuổi, không cần chỉnh liều nếu chức năng thận bình thường.
Dược động học trên các bệnh nhân rối loạn chức năng thận
Dựa trên việc so sánh các thông số dược động học chính của zofenoprilat đo được sau khi sử dụng đường uống một liều zofenopril gắn phóng xạ, bệnh nhân có suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin >45 và <90 ml/phút) thải trừ zofenopril khỏi cơ thể với cùng tốc độ với các cá thể có chức năng thận bình thường (độ thanh thải creatinin> 90 ml/phút).
Trên bệnh nhân có suy thận trung bình đến nặng (7- 44 ml/phút), mức độ thải trừ giảm khoảng 50% so với bình thường. Do đó, trên đối tượng này, cần bắt đầu sử dụng Bifril với liều bằng 1/2 liều thông thường.
Trên bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối có lọc máu và lọc màng bụng, mức độ thải trừ giảm chi còn 25% so với bình thường. Do đó, trên đối tượng này, cần bắt đầu sử dụng Bifril với liều bằng 1/4 liều thông thường.
Cách dùng Thuốc Bifril 15mg
Cách dùng
Có thể uống Bifril trước, trong hoặc sau bữa ăn. Cần chỉnh liều dần theo đáp ứng điều trị lâm sàng của bệnh nhân.
Liều dùng
Liều dùng thuốc điều trị tăng huyết áp
Việc điều chỉnh liều cần được quyết định dựa vào chỉ số huyết áp đo được ngay trước chế độ liều tiếp theo. Việc xem xét tăng liều được thực hiện sau mỗi 4 tuần.
Bệnh nhân không bị mất dịch hay mất muối:
- Cần bắt đầu với liều 15 mg 1 lần/ngày và tăng dần cho đến khi đạt được đích huyết áp tối ưu.
- Liều có hiệu quả thông thường là 30 mg 1 lần/ngày.
- Liều tối đa là 60 mg/ngày chia thành 1 hoặc 2 lần.
- Trong trường hợp không đủ đáp ứng điều trị, có thể phối hợp thêm một thuốc điều trị tăng huyết áp khác, ví dụ như thuốc lợi tiểu.
Bệnh nhân nghi ngờ mất dịch hoặc mất muối:
Trên bệnh nhân có nguy cơ cao, có thể xuất hiện cơn hạ huyết áp ngay sau liều đầu tiên.
Khi bắt đầu điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển, cần khắc phục tình trạng mất dịch và/hoặc mất muối của bệnh nhân, ngừng phác đồ lợi tiểu đã sử dụng trước đó trong khoảng 2 đến 3 ngày và bắt đầu với liều 15 mg/ngày. Nếu không, cần bắt đầu với liều 7,5 mg/ngày.
Bệnh nhân có nguy cơ cao bị hạ huyết áp cấp cần được theo dõi chặt chẽ, tốt nhất là theo dõi ở bệnh viện, trong khoảng thời gian tương ứng với thời gian phát huy tác dụng của liều ức chế men chuyển đầu tiên, và bất cứ khi nào tăng liều thuốc ức chế men chuyển và/hoặc thuốc lợi tiểu.
Điều này cũng cần thực hiện với các bệnh nhân có đau thắt ngực hoặc bệnh lý mạch não, do trên các bệnh nhân này, tình trạng hạ huyết áp nhanh có thể gây nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.
Liều dùng trên bệnh nhân suy thận và thẩm tách:
Trên bệnh nhân tăng huyết áp có suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin > 45 ml/phút) có thể sử dụng Bifril với cùng mức liều và chế độ 1 lần/ngày tương tự như với bệnh nhân có chức năng thận bình thường.
Bệnh nhân suy thận trung bình đến nặng (độ thanh thải creatinin < 45 ml/phút), cần sử dụng liều bằng 1/2 liều thông thường, có thể giữ nguyên chế độ liều 1 lần/ngày.
Đối với bệnh nhân tăng huyết áp đang trong quá trình thẩm tách, cần bắt đầu Bifril với liều bằng 1/4 liều sử dụng trên bệnh nhân có chức năng thận bình thường.
Dữ liệu lâm sàng mới nhất đã ghi nhận tỉ suất xuất hiện các phản ứng dạng phản vệ trên bệnh nhân điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển trong quá trình lọc máu bằng màng lọc dòng cao hoặc trong quá trình lọc để loại LDL.
Liều dùng trên người cao tuổi (trên 65 tuổi):
Trên người cao tuổi có độ thanh thải creatinin, không cần hiệu chỉnh liều.
Trên người cao tuổi có độ thanh thải creatinin suy giảm (nhỏ hơn 45 ml/phút) nên sử dụng liều bằng 1/2 liều thông thường.
Độ thanh thải creatinin có thể ước tính từ nồng độ creatinin huyết thanh bằng công thức sau đây:
Độ thanh thải Creatinin (ml/phút) = (140 - tuổi) x cân nặng (Kg) / Cr huyết thanh (mg/dl) x 72
Công thức trên cho kết quả độ thanh thải trên nam giới. Trên phụ nữ, cần nhân kết quả với hệ số 0,85.
Liều dùng trên bệnh nhân suy gan:
Trên bệnh nhân tăng huyết áp có suy gan ở mức độ nhẹ đến trung bình, liều khởi đầu của Bifril bằng 1/2 liều khởi đầu cho bệnh nhân có chức năng gan bình thường.
Trên bệnh nhân tăng huyết áp có suy gan nặng, chống chỉ định Bifril.
Trẻ em (dưới 18 tuổi):
Thông tin về hiệu quả và tính an toàn của Bifril trên trẻ em vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Do đó, không nên sử dụng thuốc trên trẻ em.
Liều dùng thuốc điều trị nhồi máu cơ tim cấp
Việc điều trị bằng Bifril cần bắt đầu trong vòng 24 giờ sau khi có triệu chứng nhồi máu cơ tim và cần được tiếp tục sử dụng trong 6 tuần.
Liều sử dụng như sau:
- Ngày thứ 1 và thứ 2: 7,5 mg mỗi 12 giờ.
- Ngày thứ 3 và thứ 4: 15 mg mỗi 12 giờ.
- Từ ngày thứ 5 trở đi: 30 mg mỗi 12 giờ.
Nếu huyết áp tâm thu thấp (<120mmHg) vào thời điểm bắt đầu điều trị hoặc trong suốt 3 ngày đầu sau cơn nhồi máu cơ tim, không nên tăng liều. Nếu có hiện tượng hạ huyết áp (<100mmHg), cần tiếp tục điều trị với liều đã được dung nạp trước đó. Nếu hạ huyết áp nặng (huyết áp tâm thu thấp hơn 90mmHg trong 2 lần đo liên tiếp trong vòng 1 giờ hoặc hơn), cần ngừng sử dụng Bifril.
Sau 6 tuần điều trị, bệnh nhân cần được đánh giá lại, nếu bệnh nhân không có dấu hiệu suy giảm chức năng thất trái hoặc suy tim thì ngừng sử dụng thuốc. Nếu những dấu hiệu này vẫn còn, cần tiếp tục phác đồ điều trị.
Trong những trường hợp cần thiết, bệnh nhân cũng cần sử dụng thêm các thuốc điều trị tiêu chuẩn khác như nitrat, aspirin hoặc chẹn kênh B.
Liều lượng trên người cao tuổi:
Cần sử dụng Bifril thận trọng trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim trên 75 tuổi.
Liều lượng trên bệnh nhân suy thận và thẩm tách:
Hiệu quả và độ an toàn của Bifril trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim có suy thận hoặc bệnh nhân đang trong quá trình thẩm tách vẫn chưa được thiết lập. Do đó không sử dụng Bifril trên đối tượng bệnh nhân này.
Liều lượng trên bệnh nhân suy gan:
Hiệu quả và độ an toàn của Bifril trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim có suy gan vẫn chưa được thiết lập. Do đó, không sử dụng thuốc trên đối tượng bệnh nhân này.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Làm gì khi dùng quá liều?
Triệu chứng quá liều bao gồm hạ huyết áp nặng, sốc, chậm nhịp tim, mất tỉnh táo, rối loạn điện giải và suy thận.
Sau khi đã uống thuốc quá liều, người bệnh cần được giám sát chặt chẽ, tốt nhất là trong một đơn vị điều trị tích cực. Nồng độ điện giải và creatinin huyết thanh cần được giám sát chặt chẽ, thường xuyên. Các biện pháp can thiệp lâm sàng phụ thuộc vào bản chất và mức độ nặng của các triệu chứng. Nếu bệnh nhân được phát hiện ngay khi vừa uống quá liều, cần thực hiện các biện pháp để ngăn hấp thu thuốc như rửa dạ dày, có thể sử dụng các chất hấp phụ và natri sulphat.
Nếu xuất hiện tình trạng hạ huyết áp, bệnh nhân cần được xử trí như trong trường hợp sốc, có thể phải sử dụng một cách chính xác các thuốc phát triển thể tích dịch và/hoặc điều trị bằng angiotensin II.
Tình trạng chậm nhịp tim hoặc phản ứng phế vị có thể điều trị bằng cách sử dụng atropin.
Có thể cân nhắc việc sử dụng các máy trợ nhịp tim. Có thể loại bỏ thuốc ức chế men chuyển khỏi tuần hoàn bằng cách lọc máu. Nên tránh sử dụng màng lọc polyacrylonitril dòng cao.
Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất.
Làm gì khi quên 1 liều?
Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Tác dụng phụ
BIFRIL: Bảng sau đây liệt kê các phản ứng bất lợi đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân điều trị bằng BIFRIL. Các phản ứng này được liệt kê theo hệ cơ quan và xếp thứ tự tiêu đề theo các nhóm tần suất lần lượt là: Rất phổ biến (≥ 1/10); phổ biến (≥ 1/100, < 1/10); không phổ biến (≥ 1/1,000, <1/100); hiếm gặp (21/10,000, ≤1/1,000); rất hiếm gặp (≤1/10,000).
Rối loạn hệ thần kinh trung ương:
- Phổ biến: Chóng mặt, nhức đầu.
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất:
- Phổ biến: Ho.
Rối loạn tiêu hóa:
- Phổ biến: Nôn/buồn nôn.
Rối loạn da và mô dưới da:
- Không phổ biến: Ban đỏ.
- Hiếm gặp: Phù mạch.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết:
- Không phổ biến: Co cứng cơ.
Rối loạn chung và các bất thường tại vị trí đưa thuốc:
- Phổ biến: Mệt mỏi.
- Không phổ biến: Suy nhược.
Các phản ứng bất lợi sau đây đã được ghi nhận có liên quan đến việc điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển.
Rối loạn máu và hệ bạch huyết:
- Với một số ít bệnh nhân, có xuất hiện tình trạng mất bạch cầu hạt và giảm huyết cầu tố.
- Có một số báo cáo về trường hợp thiếu máu tan máu trên bệnh nhân thiếu hụt enzym glucose-6-phosphat dehydrogenase.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng:
- Rất hiếm gặp, tình trạng hạ đường huyết.
Rối loạn tâm thần:
- Hiếm gặp, trầm cảm, rối loạn tâm trạng, rối loạn giấc ngủ, lú lẫn.
Rối loạn hệ thần kinh trung ương:
- Đôi khi gặp tình trạng dị cảm, rối loạn vị giác, rối loạn thăng bằng.
Rối loạn thị giác:
- Hiếm gặp: Nhìn mờ.
Rối loạn tai và mê đạo:
- Hiếm gặp: Ù tai.
Rối loạn tim:
- Một số báo cáo đơn lẻ về tình trạng tăng nhịp tim, đánh trống ngực, rối loạn nhịp tim, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển có liên quan đến tình trạng hạ huyết áp.
Rối loạn mạch:
- Tình trạng hạ huyết áp nghiêm trọng đã xuất hiện sau khi khởi đầu hoặc tăng liều điều trị.
- Tình trạng này đặc biệt xuất hiện trên một số nhóm bệnh nhân có yếu tố nguy cơ.
- Kết hợp với tình trạng hạ huyết áp, có một số triệu chứng như chóng mặt, cảm giác mệt mỏi, giảm thị lực, hiếm gặp hơn là rỗi loạn ý thức (ngắt).
- Một số trường hợp hiếm gặp có xuất hiện đỏ mặt.
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất:
- Hiếm gặp, có một số báo cáo về tình trạng khó thở, viêm xoang, viêm mũi, viêm lưỡi, viêm phế quản và co thắt phế quản.
- Thuốc ức chế men chuyển được báo cáo có liên quan đến sự khởi phát tình trạng phù mạch thần kinh liên quan đến mặt và mô hầu họng trên một nhóm nhỏ bệnh nhân.
- Trong một số trường hợp riêng biệt, tình trạng phù mạch thần kinh liên quan đến đường hô hấp trên đã gây tắc nghẽn đường hô hấp có nguy cơ tử vong.
Rối loạn dạ dày ruột:
- Một số trường hợp xuất hiện đau bụng, tiêu chảy, táo bón và khô miệng.
- Một số báo cáo đơn lẽ về tình trạng viêm tụy và viêm ruột đã được mô tả có liên quan đến thuốc ức chế men chuyển.
- Rất hiếm gặp, có báo cáo về tình trạng phủ mạch ruột.
Rối loạn gan mật:
- Một số trường hợp đơn lẻ có tình trạng vàng da í mật và viêm gan có liên quan đến thuốc ức chế men chuyển.
Da và mô dưới da:
- Đôi khi, phản ứng dị ứng và quá mẫn có thể xuất hiện như ngứa, mày đay, đa dạng ban đỏ, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bị nhiễm độc, vảy nến, rụng tóc lông.
- Phản ứng này có thể kèm theo triệu chứng sốt, đau cơ, đau khớp, tăng bạch cầu ưa eosin và/hoặc tăng kết quả xét nghiệm kháng thể kháng nguyên.
- Hiếm gặp, tình trạng tăng tiết mồ hôi.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết:
- Đôi khi có thể gặp đau cơ.
Rối loạn thận và hệ tiết niệu:
- Tình trạng suy thận có thể xuất hiện hoặc nặng lên.
- Hiếm gặp, có thể xuất hiện rối loạn tiểu tiện.
Rối loạn hệ sinh sản và khả năng bài tiết sữa:
- Hiếm gặp, rối loạn cương dương.
- Rối loạn chung và các bất thường tại vị trí đưa thuốc
- Rất hiếm gặp, phù ngoại vi và đau ngực.
Rối loạn xét nghiệm:
Tăng nồng độ ure và creatinin máu, có thể phục hồi sau khi ngừng thuốc, đặc biệt xuất hiện trên những bệnh nhân đã có suy thận, suy tim nặng và tăng huyết áp mạch thận.
Trên một số ít bệnh nhân, cỏ báo cáo về tình trạng giảm hemoglobin, haematocrit, tiểu cầu và bạch cầu.
Cũng có một số báo cáo về tình trạng tăng nồng độ men gan và bilirubin trong máu.
Báo cáo nghi ngờ tác dụng không mong muốn: Báo cáo nghi ngờ các tác dụng không mong muốn sau khi thuốc được lưu hành là việc rất quan trọng. Điều này cho phép việc đánh giá lợi ích/rủi ro của thuốc. Cán bộ y tế phải báo cáo bất cứ nghi ngờ tác dụng không mong muốn nào cho hệ thống báo cáo của quốc gia.
Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Thông báo cho thầy thuốc các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Chống chỉ định
Mang thai, Phù mạch, Dị ứng thuốc, Hẹp động mạch thận
Bảo quản
Hạn sử dụng: 36 tháng
Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.
Để xa tầm tay trẻ em.
Menarini