Viên nén Madopar Levodopa And Benserazide 250 Roche điều trị bệnh Parkinson vô căn (30 viên)

  • Muaday.vn
  • 26 Tháng 01 2026
  • 48 phút
Viên nén Madopar Levodopa And Benserazide 250 Roche điều trị bệnh Parkinson vô căn (30 viên)
Mô tả

Madopar 250mg của Nhà sản xuất F.Hoffmann-La Roche Ltd, thành phần chính levodopa 200mg, benserazide HCl 50mg, là thuốc dùng để điều trị bệnh Parkinson. Madopar dạng tan là chế phẩm thích hợp cho bệnh nhân bị chứng khó nuốt hoặc bệnh nhân cần dạng chế phẩm có tác dụng khởi phát nhanh hơn. Ví dụ bệnh nhân bị chứng mất vận động vào sáng sớm hoặc buổi chiều, hoặc bệnh nhân bị hiện tượng trì hoãn thời gian ‘bật’ hoặc kéo dài thời gian ‘tắt’. 

Danh mục Thuốc
Thương hiệu Thụy Sĩ Roche
Số đăng ký VN-16259-13
Dạng bào chế Viên nén
Quy cách Hộp 30 Viên
Thành phần Levodopa, Benserazide
Nhà sản xuất Ý
Nước sản xuất Thụy Sĩ
Thuốc cần kê toa

Thành phần của Viên nén Madopar Levodopa And Benserazide 250

Thông tin thành phần Hàm lượng
Levodopa 200mg
Benserazide 50mg

Công dụng của Viên nén Madopar Levodopa And Benserazide 250

Chỉ định

Thuốc Madopar được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:

Dược lực học

Đặc tính dược lực học

Madopar dạng tan là chế phẩm thích hợp cho bệnh nhân bị chứng khó nuốt hoặc bệnh nhân cần dạng chế phẩm có tác dụng khởi phát nhanh hơn.

Ví dụ bệnh nhân bị chứng mất vận động vào sáng sớm hoặc buổi chiều, hoặc bệnh nhân bị hiện tượng trì hoãn thời gian “bật” hoặc kéo dài thời gian “tắt”.

Madopar HBS được chỉ định dùng cho các bệnh nhân có mọi dạng đáp ứng dao động (ví dụ bị rối loạn vận động ở liều định hoặc xấu đi ở cuối liều - ví dụ như bất động vào ban đêm).

Cơ chế tác dụng

Bệnh Parkinson:

Dopamine, chất đóng vai trò là chất dẫn truyền thần kinh trong não, không có đủ nồng độ ở vị trí các nhân xám trung ương của các bệnh nhân Parkinson.

Levodopa (INN) hoặc L - DOPA (3,4 - dihydroxy L - phenylalanin) là chất trung gian trong quá trình sinh tổng hợp dopamine.

Levodopa (tiền chất của dopamine) được sử dụng như một tiền chất để gia tăng nồng độ dopamine vì nó có thể xuyên qua hàng rào máu - não trong khi tự dopamine không thể qua được.

Khi levodopa vào hệ thần kinh trung ương, nó được chuyển hóa thành dopamine nhờ men L - amino acid decarboxylase thơm.

Sau khi dùng, levodopa bị khử nhóm carboxyl nhanh chóng để trở thành dopamine, cả trong não cũng như khu vực ngoài não.

Kết quả là phần lớn levodopa uống vào không nằm trong các nhân xám trung ương, và dopamine được sản xuất ra ở vùng ngoại vi thường gây ra nhiều tác dụng phụ.

Do vậy điều cần đặc biệt chú ý là phải ngăn chặn quá trình khử carboxyl của levodopa ở vùng ngoài não, điều này có thể đạt được bằng cách dùng đồng thời levodopa với benserazide, chất ức chế men decarboxylase ngoại vi.

Madopar là phối hợp của 2 chất này với tỷ lệ 4:1, tỷ lệ này đã chứng minh được tính tối ưu trong các thử nghiệm lâm sàng và sử dụng trong điều trị và có hiệu quả tương tự như khi dùng levodopa liều cao một mình.

Hội chứng chân không yên nguyên phát:

Chưa biết rõ cơ chế tác dụng chính xác, nhưng có bằng chứng cho thấy hệ dopaminergic đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của hội chứng chân không yên.

Dược động học

Hấp thu

Dạng thông thường:

Levodopa được hấp thu chủ yếu tại đoạn trên của ruột non, và sự hấp thu không phụ thuộc vào vị trí. Nồng độ tối đa trong huyết tương của levodopa đạt được khoảng một giờ sau khi uống Madopar chuẩn.

Dạng viên nhộng và viên nén của Madopar thông thường tương đương về độ sinh khả dụng.

Nồng độ tối đa trong huyết tương của levodopa và mức độ hấp thu của levodopa (AUC) tăng tỷ lệ với liều dùng (50 - 200mg levodopa).

Thực phẩm ăn vào làm giảm tốc độ và mức độ hấp thu của levodopa. Nồng độ đỉnh của levodopa trong huyết tương giảm 30% và xuất hiện trễ hơn khi Madopar chuẩn được dùng sau bữa ăn chính. Mức độ hấp thu của levodopa giảm 15%.

Dạng tan:

Thông số dược động học của levodopa sau khi dùng Madopar dạng tan ở người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân bệnh Parkinson tương tự như ở nhóm người này dùng Madopar chuẩn, nhưng thời gian đạt được nồng độ đỉnh có khuynh hướng ngắn hơn khi dùng Madopar dạng tan.

Ít có sự biến thiên giữa các cá nhân đối với các tham số hấp thu khi Madopar dạng tan được uống dưới dạng hỗn dịch.

Dạng phóng thích có kiểm soát:

Đặc tính dược động học của Madopar HBS khác với dược động học của Madopar dạng thông thường (viên nén và viên nang) và dạng tan.

Hoạt chất được phóng thích chậm trong dạ dày.

Nồng độ tối đa trong huyết tương, từ 20 - 30% so với nồng độ tối đa trong huyết tương của các dạng thuốc thông thường, đạt được 3 giờ sau khi uống.

Đường cong nồng độ trong huyết tương cho thấy có “khoảng thời gian một nửa giá trị dài hơn (khoảng thời gian trong đó nồng độ thuốc trong huyết tương là tương đương hoặc cao hơn một nửa của nồng độ tối đa) các dạng thuốc thông thường, điều này cho thấy thuốc có đặc tính phóng thích có kiểm soát như đã công bố.

Độ sinh khả dụng của Madopar HBS bằng khoảng 50 - 70% của dạng viên thông thường và không bị ảnh hưởng bởi thức ăn. Nồng độ tối đa trong huyết tương của levodopa không bị ảnh hưởng bởi thức ăn nhưng đạt được muộn hơn (5 giờ) sau khi uống Madopar HBS sau ăn.

Phân bố

Levodopa đi qua hàng rào máu não qua hệ thống vận chuyển bão hòa. Nó không gắn kết với protein huyết tương và thể tích phân bố là 57 lít. AUC của levodopa trong dịch não tủy bằng 12% trong huyết tương.

Ngược lại với levodopa, benserazide không xâm nhập được qua hàng rào máu não ở liều điều trị. Thuốc chủ yếu tập trung ở thận, phổi, ruột non và gan.

Chuyển hóa

Levodopa được chuyển hóa qua 2 con đường chính (khử carboxyl và O - methyl hóa) và 2 con đường nhỏ khác (transamin hóa và oxy hóa).

Men Axit amin thơm decarboxylase chuyển levodopa thành dopamine.

Các chất chuyển hóa chính của đường chuyển hóa này là axit homovanillic và axit dihydroxyphenylacetic. Men catechol - O - methyltransferase methyl hóa levodopa thành 3 - O - methyldopa.

Các chất chuyển hóa chính trong huyết tương có thời gian bán huỷ là 15 giờ, và nó được tích lũy ở bệnh nhân điều trị bằng Madopar.

Việc khử carboxy ngoại vi của levodopa bị giảm khi uống kèm benserazide được phản ánh thông qua nồng độ huyết tương cao hơn của levodopa và 3 - O - methyIdopa và nồng độ huyết tương thấp hơn của các cathecholamines (dopamine, noradrenaline) và các axit phenolcarboxylic (axit homovanillic, axit dihydroxyphenylacetic).

Benserazide được hydroxyl hóa thành trihydroxybenzylhydrazine trong niêm mạc ruột và trong gan. Chất chuyển hóa này là chất ức chế chính của men axit amin thơm decarboxylase.

Thải trừ

Khi có sự ức chế quá trình khử carboxyl của levodopa ở ngoại vi, thời gian bán hủy của levodopa vào khoảng 1.5 giờ.

Thời gian bán thải bị kéo dài hơn (25%) ở bệnh nhân lớn tuổi (65 - 78 tuổi) mắc bệnh Parkinson (xem mục Dược động học ở các đối tượng đặc biệt).

Độ thanh thải của levodopa trong huyết tương khoảng 430ml/phút.

Benserazide gần như được thải trừ hoàn toàn quá trình chuyển hóa. Các chất chuyển hóa chủ yếu được thải trừ qua nước tiểu (64%) và một phần nhỏ qua phân (24%).

Dược động học ở các đối tượng đặc biệt

Không có các dữ liệu về dược động học ở các bệnh nhân tăng ure máu hoặc bệnh gan.

Ảnh hưởng của tuổi lên dược động học của levodopa

Ở bệnh nhân bệnh Parkinson lớn tuổi (65 - 78 tuổi) cả thời gian bán hủy và AUC của levodopa đều cao hơn ở bệnh nhân trẻ tuổi (34 - 64 tuổi) khoảng 25%. Hiệu quả có ý nghĩa thống kê của tuổi có ý nghĩa lâm sàng không đáng kể và ít quan trọng trong chế độ liều dùng ở bất cứ chỉ định nào.

Cách dùng Viên nén Madopar Levodopa And Benserazide 250

Cách dùng

Dùng đường uống.

Phương pháp dùng thuốc:

Khi dùng Madopar thông thường dạng viên nang hoặc Madopar HBS, bệnh nhân phải luôn đảm bảo là nuốt trọn viên nang mà không cần vỏ thuốc.

Madopar dạng viên nén thông thường có thể bẻ được để dễ nuốt. Madopar viên nén tan có thể pha trong một phần tư ly nước (khoảng 25 - 50ml). Viên nén rã ra hoàn toàn trong nước, tạo thành dung dịch khuếch tán dạng sữa trắng trong vài phút.

Vì dung dịch lắng cặn nhanh, nên khuấy đều trước khi uống.

Madopar viên nén dạng tan nên uống trong vòng nửa giờ sau khi chuẩn bị dung dịch.

Bệnh Parkinson:

  • Madopar nên uống ít nhất 30 phút trước hoặc 1 giờ sau khi ăn nếu có thể được.
  • Các tác dụng phụ dạ dày ruột, thường xảy ra chủ yếu trong giai đoạn sớm của quá trình điều trị, có thể kiểm soát bằng cách uống Madopar kèm với thức ăn nhẹ (Ví dụ: Bánh quy) hoặc dịch lỏng hoặc bằng cách tăng liều từ từ.

Liều dùng

Điều trị bằng Madopar nên được dùng tăng dần từ từ, hơn nữa, liều dùng nên được đánh giá xác định cho từng người bệnh và điều chỉnh để đạt được liều cho hiệu quả tối ưu.

Những hướng dẫn liều dùng sau đây do vậy chỉ nên coi là những chỉ dẫn chung.

Điều trị khởi đầu

Trong các giai đoạn đầu của bệnh Parkinson nên bắt đầu điều trị với một viên nang Madopar 62.5” hoặc 1/2 viên nén Madopar 125°, ba hoặc bốn lần mỗi ngày.

Ngay sau khi thấy có sự dung nạp tốt với phác đồ điều trị khởi đầu, liều dùng nên được tăng dần từ từ theo đáp ứng của bệnh nhân.

Tác dụng tối ưu thường đạt được khi liều hàng ngày của Madopar tương ứng với 300 - 800mg levodopa + 75 - 200mg benserazide, được chia làm 3 lần hoặc hơn.

Cần khoảng thời gian từ 4 đến 6 tuần để đạt được hiệu quả tối ưu. Nếu thấy cần phải tăng liều 2 dùng hàng ngày thêm nữa, nên tăng theo từng tháng.

Điều trị duy trì

Liều duy trì trung bình là một viên nang hoặc viên nén Madopan 125, dùng 3 đến 6 lần mỗi ngày.

Số lần dùng thuốc của mỗi cá nhân (không ít hơn ba) và sự phân chia thời gian dùng thuốc trong ngày phải được điều chỉnh để đạt hiệu quả tối ưu.

Madopar HBS hoặc Madopar dạng tan có thể dùng để thay thế cho Madopar dạng thông thường để đạt hiệu quả tối ưu.

Các hướng dẫn liều dùng đặc biệt

Liều dùng phải được điều chỉnh cẩn thận ở tất cả các bệnh nhân (xem mục Chỉ định điều trị).

Bệnh nhân đang sử dụng các loại thuốc điều trị Parkinson khác vẫn có thể sử dụng Madopar.

Tuy nhiên, trong khi việc điều trị Madopar tiến hành và hiệu quả điều trị trở nên rõ ràng, liều dùng của các thuốc đó có thể giảm dần hoặc từ từ ngưng hẳn.

Madopar viên nén dạng tan đặc biệt thích hợp cho bệnh nhân bị chứng nuốt khó hoặc trong tình huống cần tác dụng khởi phát của thuốc nhanh.

Ví dụ: Bệnh nhân bị mất vận động vào sáng sớm hoặc buổi chiều, hoặc bệnh nhân bị hiện tượng trì hoãn thời gian ‘bật’ hoặc kéo dài thời gian ‘tắt’.

Với các bệnh nhân đã biết có sự dao động lớn về tác dụng điều trị của thuốc trong ngày điều trị (hiện tượng bật - tắt), thì nên dùng thuốc làm nhiều lần với các liều nhỏ hơn, hoặc nên dùng dạng Madopar HBS.

Khi chuyển từ Madopar thông thường sang dùng dạng Madopar HBS nên thực hiện từ ngày này sang ngày kế bắt đầu với liều dùng vào buổi sáng.

Liều dùng và số lần dùng trong ngày nên bắt đầu giống như liều của Madopar thông thường.

Sau hai đến ba ngày, liều dùng phải được tăng dần thêm khoảng 50%. Các bệnh nhân phải được thông báo rằng tình trạng bệnh của họ có thể bị ảnh hưởng trong một thời gian.

Do đặc tính dược học của Madopar HBS, thời gian thuốc có tác dụng bị trì hoãn.

Hiệu quả lâm sàng có thể đạt được nhanh hơn bằng cách dùng Madopar HBS chung với Madopar thông thường hoặc Madopar dạng tan.

Điều này thực sự có ích đối với liều đầu tiên vào buổi sáng, nên dùng liều cao hơn một chút so với các liều tiếp theo trong ngày.

Việc định liều cho từng cá nhân dùng Madopar HBS phải được thực hiện từ từ và cẩn thận, với các quãng cách ít nhất là hai đến ba ngày giữa mỗi lần thay đổi liều.

Ở các bệnh nhân bị bất động vào ban đêm, tác dụng tích cực đã được báo cáo khi tăng dần liều cuối cùng của buổi tối tới 250mg Madopar HBS trước lúc đi ngủ.

Hiện tượng đáp ứng quá mức với Madopar HBS (rối loạn vận động) có thể được kiểm soát bằng cách tăng khoảng thời gian quãng cách giữa các lần dùng hơn là bằng cách giảm liều dùng đơn độc.

Trong trường hợp đáp ứng kém với Madopar HBS, nên quay trở lại với điều trị trước đó bằng các loại Madopar chuẩn hoặc Madopar dạng phân tán.

Các bệnh nhân nên được theo dõi cẩn thận về các tác dụng phụ về tâm thần không mong muốn có thể xảy ra.

Làm gì khi quá liều?

Triệu chứng và dấu hiệu

Các triệu chứng và dấu hiệu quá liều về bản chất cũng tương tự như tác dụng phụ của Madopar ở liều điều trị nhưng độ nặng thì trầm trọng hơn.

Quá liều có thể dẫn đến:

  • Tác dụng phụ trên tim mạch (ví dụ loạn nhịp tim), rối loạn tâm thần (ví dụ: Lẫn lộn, mất ngủ), tác dụng trên đường tiêu hóa (ví dụ: Buồn nôn, nôn ói) và những vận động ngoại ý bất thường (xem mục Sau khi đưa vào thị trường [Tác dụng không mong muốn]).

Nếu bệnh nhân dùng quá liều dạng Madopar phóng thích chậm (Madopar HBS viên nang), sự xuất hiện các triệu chứng và dấu hiệu có thể bị trì hoãn do sự trì hoãn hấp thu hoạt chất từ dạ dày.

Điều trị

Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân và thiết lập các biện pháp hỗ trợ được chỉ định theo tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.

Ở những trường hợp đặc biệt có thể cần điều trị triệu chứng như hậu quả trên hệ tim mạch (ví dụ thuốc chống loạn nhịp tim) hoặc hậu quả trên hệ thần kinh trung ương (ví dụ thuốc kích thích hô hấp, thuốc an thần).

Thêm vào đó, đối với dạng phóng thích chậm phải ngăn ngừa tình trạng hấp thu thêm sau đó bằng các biện pháp thích hợp.

Làm gì khi quên liều?

Nếu bạn quên một liều thuốc, hãy uống càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và uống liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Không uống gấp đôi liều đã quy định.

Tác dụng phụ

Thông báo cho bác sĩ bất kỳ tác dụng phụ nào có liên quan đến việc dùng thuốc.

Các tác dụng không mong muốn đã được báo cáo sau khi sử dụng levopoda - benserazide (không biết tần suất, không thể ước tính được từ các dữ liệu hiện có):

Phân loại theo tần suất sau:

Rất phổ biến: > 1/10;

Phổ biến: > 1/100 đến < 1/10;

Ít gặp: > 1/1,000 đến < 1/100;

Hiếm gặp: (21/10,000 đến < 1/1,000);

Rất hiếm gặp: (<1/10,000);

Không biết (không thể ước tính được từ các dữ liệu hiện có).

Rối loạn máu và hệ bạch huyết 
Không biết tần suấtThiếu máu tan huyết
 Giảm bạch cầu
 Giảm tiểu cầu
Rối loạn tâm thần 
Không biết tần suấtHội chứng rối loạn dopamine
 Trầm cảm
 Kích động
 Lo lắng
 Mất ngủ
 Ảo giác
 Ảo tưởng
 Mất phương hướng
 Cờ bạc bệnh lý
 Tăng ham muốn tình dục
 Cuồng dâm
Rối loạn hệ thần kinh 
Không biết tần suấtMất vị giác
 Loạn vị giác
 Rối loạn vận động (múa giật và múa vờn
 Biến động trong đáp ứng điều trị
 Hiện tượng trơ
 Nặng lên cuối liều
 Hiện tượng bật tắt
 Tình trạng mơ màng
 Buồn ngủ khởi phát đột ngột
Rối loạn tim mạch 
Không biết tần suấtLoạn nhịp itm
Rối loạn mạch máu 
Không biết tần suấtHạ huyết áp tư thế
  
Rối loạn dạ dày ruột 
Không biết tần suấtBuồn nôn
 Nôn
 Tiêu chảy
 Nước bọt đổi màu
 Răng đổi màu
 Niêm mạc miệng đổi màu
Rối loạn gan mật 
Không biết tần suấtTransaminase tăng
 Phosphatase kiềm tang
 Gamma - glutamyltransferase tăng
Rối loạn da và mô dưới da 
Không biết tần suấtNgứa
 Phát ban
Rối loạn cơ xương và mô liên kết 
Không biết tần suấtHội chứng không yên
Rối loạn thận và đường tiết niệu 
 Ure máu tăng

Rối loạn kiểm soát xung động

Cờ bạc bệnh lý, tăng ham muốn tình dục, cuồng dâm.

Rối loạn thần kinh

Trầm cảm có thể là một phần của bệnh cảnh lâm sàng chung trên bệnh nhân mắc Parkinson và hội chứng chân không yên và có thể xảy ra trên bệnh nhân điều trị bằng Madopar. Rối loạn tâm thần xảy ra phổ biến trên bệnh nhân Parkinson, bao gồm bệnh nhân điều trị bằng levodopa, bao gồm lo lắng, kích động, mất ngủ, trầm cảm, ảo tưởng, ảo giác, mất phương hướng về thời gian.

Giai đoạn sau của quá trình điều trị, rối loạn vận động (múa giật hay múa vòng) có thể xảy ra. Tình trạng này có thể mất đi hoặc dung nạp được sau khi giảm liều. Có thể gặp những dao động trong đáp ứng điều trị khi điều trị kéo dài.

Sự dao động này bao gồm giai đoạn trơ, nặng lên vào cuối liều và hiện tượng “bật - tắt”.

Các hiện tượng này mất đi hoặc có thể dùng nạp được khi điều chỉnh liều hoặc chia nhỏ liều ra dùng nhiều lần hơn.

Sau đó có thể tìm cách tăng liều trở lại để gia tăng hiệu quả điều trị. Levodopa - benserazide có liên quan đến tình trạng buồn ngủ và rất hiếm khi liên quan đến tình trạng buồn ngủ quá mức vào ban ngày hoặc có những giai đoạn ngủ bất chợt.

Rối loạn dạ dày ruột

Các tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa có thể xảy ra chủ yếu giai đoạn đầu điều trị, hầu hết có thể được kiểm soát bằng cách dùng Madopar với thức ăn hay chất lỏng hay tăng liều từ từ.

Xuất huyết tiêu hóa đã được báo cáo khi điều trị bằng levodopa. Một số trường hợp mất hay thay đổi vị giác.

Rối loạn mạch máu

Rối loạn tư thế hầu hết được cải thiện sau khi giảm liều Madopar.

Rối loạn hệ cơ xương và mô liên kết.

Hội chứng chân không yên

Tiến triển nặng thêm của bệnh (thời gian xuất hiện triệu chứng từ buổi tối/đêm chuyển sang đầu buổi chiều và tối trước khi dùng liều ban đêm kế tiếp) là phản ứng bất lợi thường gặp nhất khi điều trị dài ngày bằng các thuốc dopaminergic.

Đỏ bừng mặt và đổ mồ hôi đã được báo cáo khi sử dụng levodopa.

Xét nghiệm

Xét nghiệm: Nước tiểu có thể bị thay đổi màu sắc, thường có màu đỏ rồi chuyển sang màu sẫm khi để lắng. Sự thay đổi này do các chất chuyển hóa và không cần phải lo lắng.

Các loại dịch cơ thể hoặc mô khác cũng có thể bị đổi màu hoặc nhuộm màu bao gồm nước bọt, lưỡi, răng hoặc niêm mạc miệng.

Chống chỉ định

Rối loạn tâm thần, Suy gan, Suy thận, Dị ứng thuốc, Loét thực quản

Lưu ý khi sử dụng

  • Phụ nữ cho con bú
  • Suy gan thận
  • Lái tàu xe
  • Phụ nữ có thai

Bảo quản

Hạn sử dụng: 48 tháng

Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.

Để xa tầm tay trẻ em.