Thuốc Mircera 30mcg/ 0.3ml Roche điều trị thiếu máu do bệnh thận mãn tính (0.3ml)
| Mô tả |
Thuốc tiêm Mircera 30mcg/0,3ml Inj được sản xuất bởi Công ty Roche, với thành phần chính methoxy polyethylene glycol - epoetin beta. Đây là thuốc dùng để điều trị thiếu máu triệu chứng do bệnh thận mạn tính ở cả những bệnh nhân đang được thẩm phân máu và những bệnh nhân chưa được thẩm phân máu. |
| Danh mục | Thuốc |
| Thương hiệu |
Roche |
| Số đăng ký | QLSP-926-16 |
| Dạng bào chế | Dung dịch tiêm |
| Quy cách | Tuýp |
| Thành phần | Methoxy polyethylene glycol-epoetin beta |
| Nhà sản xuất | Đức |
| Nước sản xuất | Thụy Sĩ |
| Thuốc cần kê toa | Có |
Thành phần của Thuốc Mircera 30mcg/ 0.3ml
| Thông tin thành phần | Hàm lượng |
|---|---|
| Methoxy polyethylene glycol-epoetin beta | 30Mcg |
Công dụng của Thuốc Mircera 30mcg/ 0.3ml
Chỉ định
Thuốc Mircera 30mcg/0,3ml được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
- Điều trị thiếu máu triệu chứng do bệnh thận mạn tính ở cả những bệnh nhân đang được thẩm phân máu và những bệnh nhân chưa được thẩm phân máu.
Dược lực học
Methoxy polyethylene glycol - epoetin beta là một chất hoạt hóa liên tục thụ thể erythropoietin. Methoxy polyethylene glycol - epoetin beta khác với erythropoietin ở chỗ cầu nối amid trong phân tử này hoặc là giữa acid methoxy polyethylene glycol butanoic với nhóm N - terminal amino hoặc là giữa acid methoxy polyethylene glycol butanoic với nhóm ε - amino của lysine, chủ yếu là Lys52, Lys45.
Kết quả là tạo ra methoxy polyethylene glycol - epoetin beta có trọng lượng phân tử khoảng 60.000 daltons với gốc PEG có trọng lượng phân tử khoảng 30.000 daltons.
Trái ngược với erythropoietin, Mircera cho thấy có sự hoạt động khác biệt ở mức độ thụ thể, được biểu hiện bởi: Kết hợp chậm hơn và tách ra nhanh hơn với thụ thể, giảm hoạt động đặc hiệu trên in vitro và tăng hoạt động trên in vivo và gia tăng thời gian bán hủy. Những khác biệt về mặt đặc tính dược lý này giúp xây dựng được chế độ điều trị mỗi tháng một lần cho bệnh nhân.
Mircera kích thích tạo hồng cầu bằng cách tương tác với thụ thể erythropoietin trên tế bào gốc ở tủy xương. Là yếu tố tăng trưởng chính cho sự phát triển erythroid, hormone tự nhiên erythropoietin được sản xuất từ thận và giải phóng vào máu khi có sự giảm oxy huyết. Phản ứng lại với sự giảm oxy huyết, erythropoietin sẽ tác động lên những tế bào gốc erythroid để làm tăng sự sản xuất hồng cầu.
Dược động học
Mircera dùng mỗi tháng một lần nhờ thuốc có thời gian bán thải dài. Thời gian bán thải sau khi tiêm tĩnh mạch Mircera dài gấp từ 15 – 20 lần so với khi dùng erythropoietin người tái tổ hợp.
Dược động học của Mircera đã được nghiên cứu trên những người tình nguyện khỏe mạnh và trên những bệnh nhân bị thiếu máu do bệnh thận mạn tính được thẩm phân máu và chưa được thẩm phân máu.
Ở những bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính, độ thanh thải và thể tích phân bố của methoxy polyethylene glycol - epoetin beta không phụ thuộc vào liều dùng.
Hấp thu
Sau khi tiêm thuốc vào dưới da những bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính, người ta thấy nồng độ của methoxy polyethylene glycol - epoetin beta đạt được tối đa sau khi tiêm 72 tiếng (giá trị trung vị) ở bệnh nhân có thẩm phân máu và 95 giờ sau khi tiêm ở bệnh nhân không thẩm phân máu.
Tính sinh khả dụng tuyệt đối của methoxy polyethylene glycol - epoetin beta sau khi tiêm dưới da ở bệnh nhân được thẩm phân máu là 62% và ở bệnh nhân không được thẩm phân máu là 54%.
Phân bố
Một thử nghiệm trên 400 bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính đã cho thấy thể tích phân bố của methoxy polyethylene glycol - epoetin beta vào khoảng 5l.
Thải trừ
Sau khi tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính, thời gian bán thải của methoxy polyethylene glycol - epoetin beta là 134 giờ (hoặc 5,6 ngày) và độ thanh thải toàn thân là 0,494ml/giờ/kg. Sau khi tiêm dưới da, thời gian bán thải cuối ở bệnh nhân là 139 giờ ở bệnh nhân có thẩm phân máu và 142 giờ ở bệnh nhân không thẩm phân máu.
Dược động học ở những đối tượng đặc biệt
Bệnh nhân suy gan
Dược động học của Mircera trên bệnh nhân có suy gan cũng giống như đối tượng khỏe mạnh.
Các đối tượng đặc biệt khác
Những phân tích nhóm đối tượng đã đánh giá ảnh hưởng tiềm tàng của những đặc điểm nhân khẩu học lên dược động học của Mircera. Kết quả của những phân tích này cho thấy rằng không cần thiết phải điều chỉnh liều khởi đầu cho từng lứa tuổi, từng giới hoặc từng chủng tộc. Một phân tích dược động học theo nhóm đối tượng cũng đã cho thấy không có sự khác biệt nào về mặt dược động học giữa những bệnh nhân được thẩm phân máu và những bệnh nhân không được thẩm phân máu.
Cách dùng Thuốc Mircera 30mcg/ 0.3ml
Cách dùng
Thuốc tiêm Mircera 30mcg/0,3ml Inj dùng đường tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da.
Liều dùng
Số lần dùng Mircera ít hơn những chất kích thích tạo hồng cầu khác do thuốc có thời gian bán hủy dài hơn.
Điều trị với Mircera phải được bắt đầu dưới sự giám sát của bác sĩ có kinh nghiệm trong kiểm soát bệnh nhân bị suy thận.
Điều trị thiếu máu triệu chứng ở bệnh nhân người lớn bị bệnh thận mạn tính
Dung dịch có thể tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch (tùy theo sự thuận tiện trên lâm sàng).
Mircera có thể được tiêm vào dưới da ở vùng bụng, cánh tay hoặc đùi. Cả ba vị trí này đều thuận tiện như nhau để tiêm Mircera dưới da.
Nên theo dõi mức hemoglobin của bệnh nhân mỗi hai tuần một lần cho đến khi mức này ổn định và theo dõi định kỳ sau đó.
Bệnh nhân hiện chưa được điều trị với chất kích thích tạo hồng cầu nào
Bệnh nhân không đang thẩm phân máu
Để tăng lượng hemoglobin lên cao hơn 11g/dl (6,83mmol/l), liều khởi đầu khuyến cáo là 1,2μg/kg dùng 1 lần mỗi tháng bằng cách tiêm dưới da. Hoặc có thể dùng liều khởi đầu 0,6μg/kg cân nặng 1 lần mỗi 2 tuần bằng cách tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da.
Bệnh nhân đang được thẩm phân máu
Để tăng lượng hemoglobin lên cao hơn 11g/dl (6,83mmol/l), liều khuyến cáo là 0,6μg/kg 1 lần mỗi 2 tuần bằng cách tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da.
Nếu sau một tháng điều trị, tốc độ tăng hemoglobin ít hơn 1,0g/dl (0,621mmol/l), liều Mircera có thể được tăng thêm khoảng 25 – 50% của liều trước đó. Cứ sau mỗi tháng, có thể tăng liều khoảng 25 đến 50% cho đến khi đạt được mức hemoglobin cần thiết cho mỗi bệnh nhân.
Nếu sau một tháng điều trị, tốc độ tăng hemoglobin nhiều hơn 2g/dl (1,24mmol/l), liều dùng có thể được giảm đi khoảng 25 – 50%. Nếu mức hemoglobin vượt quá 13g/dl (8,07mmol/l), phải ngưng việc điều trị cho đến khi mức hemoglobin giảm xuống dưới 13g/dl và sau đó, bắt đầu điều trị lại với liều xấp xỉ 50% liều đã dùng trước đó. Với những quốc gia áp dụng mức hemoglobin giới hạn cao là 13g/dl, sự điều chỉnh liều theo mức 25% cần được xem xét.
Sau khi tạm ngừng dùng thuốc, hemoglobin dự kiến giảm khoảng 0,35g/dl (0,22mmol/l) mỗi tuần.
Bệnh nhân được điều trị một lần mỗi 2 tuần mà nồng độ hemoglobin vượt quá 11g/dl (6,83mmol/l) có thể dùng mircera một lần mỗi tháng với liều gấp hai lần so với liều một lần mỗi hai tuần trước đó.
Không nên điều chỉnh liều dùng nhiều hơn một lần mỗi tháng.
Bệnh nhân hiện đang được điều trị với một chất kích thích tạo hồng cầu
Bệnh nhân hiện đang được điều trị với một chất kích thích tạo hồng cầu có thể được chuyển sang tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da liều đơn Mircera mỗi tháng một lần hoặc, nếu cần thiết, mỗi hai tuần một lần.
Liều khởi đầu Mircera tuỳ thuộc vào liều darbepoetin alfa hoặc epoetin đã tính được trước đó mà bệnh nhân đang được dùng hàng tuần tại thời điểm chuyển sang dùng Mircera như được trình bày ở bảng 1 và 2. Lần tiêm Mircera đầu tiên nên được tiến hành vào lúc dự định tiêm mũi darbepoetin alfa hoặc epoetin kế tiếp trong phác đồ điều trị trước đó.
Bảng 1. Chuyển từ epoetin sang điều trị bẳng Mircera
|
|||||||||||||||
Bảng 2. Chuyển từ darbepoetin alfa sang điều trị bằng Mircera
|
|||||||||||||||
Nếu cần phải điều chỉnh liều để duy trì nồng độ hemoglobin đã đạt được ở mức trên 11g/dl (6,83mmol/l), liều dùng hàng tháng có thể được điều chỉnh khoảng 25%.
Nếu sau một tháng điều trị, tốc độ tăng hemoglobin nhiều hơn 2g/dl (1,24mmol/l), liều dùng có thể được giảm đi khoảng 25 – 50%. Nếu mức hemoglobin vượt quá 13g/dl (8,07mmol/l), phải ngưng việc điều trị cho đến khi mức hemoglobin giảm xuống dưới 13g/dl và sau đó, bắt đầu điều trị lại với liều xấp xỉ 50% liều đã dùng trước đó. Với những quốc gia áp dụng mức hemoglobin giới hạn cao là 13g/dl, sự điều chỉnh liều theo mức 25% cần được xem xét.
Sau khi tạm ngừng dùng thuốc, hemoglobin dự kiến giảm khoảng 0,35g/dl (0,22mmol/l) mỗi tuần.
Sử dụng cho trẻ em
Không nên dùng Mircera cho bệnh nhi dưới 18 tuổi do chưa có đủ những dữ liệu về an toàn và hiệu quả của thuốc trên những đối tượng này.
Người già
Trong các thử nghiệm lâm sàng có 24% bệnh nhân được điều trị bằng Mircera nằm trong độ tuổi 65 – 74, còn 20% nằm trong độ tuổi từ 75 trở lên. Không cần điều chỉnh liều dùng ban đầu ở bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên.
Ở người suy gan
Không cần điều chỉnh hoặc thay đổi liều dùng ban đầu ở các bệnh nhân suy gan.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Làm gì khi dùng quá liều?
Giới hạn liều điều trị của Mircera rất rộng và đáp ứng với điều trị của từng bệnh nhân phải được xem xét khi bắt đầu điều trị với Mircera. Tình trạng quá liều có thể đưa đến biểu hiện của một tác động dược lực học quá mức, ví dụ như sự tạo hồng cầu quá mức. Trong trường hợp mức hemoglobin quá cao, nên tạm ngưng dùng Mircera. Nếu có chỉ định trên lâm sàng, có thể cần phải trích máu tĩnh mạch.
Làm gì khi quên 1 liều?
Nếu một liều Mircera bị bỏ sót, nên tiêm lại liều này càng sớm càng tốt và phải bắt đầu dùng Mircera lại theo đúng như số lần dùng theo quy định/đã được chỉ dẫn.
Tác dụng phụ
Khi sử dụng thuốc Mircera 30mcg/0,3ml Inj, bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR).
Thường gặp, ADR > 1/100
-
Mạch: Tăng huyết áp.
Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100
-
Thần kinh: Đau đầu.
-
Biến chứng: Huyết khối mạch máu.
Hiếm gặp, 1/10000 < ADR < 1/1000
-
Miễn dịch: Quá mẫn.
-
Thần kinh: Bệnh não tăng huyết áp.
-
Da và mô dưới da: Ban.
Hướng dẫn cách xử trí ADR
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Chống chỉ định
Dị ứng thuốc, Cao huyết áp
Lưu ý khi sử dụng
Độ tuổi sử dụng: Trên 18 tuổi
- Phụ nữ có thai
- Phụ nữ cho con bú
Bảo quản
Hạn sử dụng: 36 tháng
Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.
Để xa tầm tay trẻ em.
Roche