Thuốc SaVi Valsartan 40mg Savipharm điều trị nhồi máu cơ tim, suy tim và tăng huyết áp (3 vỉ x 10 viên)
| Mô tả |
Thuốc SaVi Valsartan là sản phẩm của Công ty Cổ phần Dược phẩm Savi Pharm, có thành phần chính là Valsartan. Đây là thuốc được sử dụng để điều trị nhồi máu cơ tim, suy tim và tăng huyết áp. |
| Danh mục | Thuốc |
| Thương hiệu |
Savi |
| Số đăng ký | 893110277624 |
| Dạng bào chế | Viên nén bao phim |
| Quy cách | Hộp 3 Vỉ x 10 Viên |
| Thành phần | Valsartan |
| Nhà sản xuất | Việt Nam |
| Nước sản xuất | Việt Nam |
| Thuốc cần kê toa | Có |
Thành phần của Thuốc Savi Valsartan 40mg
| Thông tin thành phần | Hàm lượng |
|---|---|
| Valsartan | 40mg |
Công dụng của Thuốc Savi Valsartan 40mg
Chỉ định
Thuốc SaVi Valsartan được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
Nhồi máu cơ tim gần đây
Điều trị bệnh nhân người lớn ổn định về mặt lâm sàng bị suy tim có triệu chứng hoặc rối loạn chức năng tâm thu thất trái không triệu chứng sau nhồi máu cơ tim gần đây (12 giờ - 10 ngày).
Suy tim
Điều trị bệnh nhân người lớn bị suy tim có triệu chứng khi không dung nạp thuốc ức chế enzyme chuyển angiotensin (ACE: Angiotensin Converting Enzyme) hoặc bệnh nhân không dung nạp thuốc chẹn beta như liệu pháp bổ sung cho thuốc ức chế enzyme chuyển angiotensin khi không thể sử dụng thuốc ức chế thụ thể mineralocorticoid.
Tăng huyết áp
Điều trị tăng huyết áp ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc ức chế thụ thể angiotensin II.
Mã ATC: C09CAD3
Valsartan là thuốc ức chế thụ thể angiotensin II (Ang II) đường uống, mạnh và đặc hiệu. Valsartan tác động chọn lọc trên thụ thể AT1, thụ thể này chịu trách nhiệm cho các hoạt tính đã biết của angiotensin II. Nồng độ Ang II trong huyết tương tăng lên sau khi ức chế thụ thể AT1 bằng valsartan có thể kích hoạt thụ thể AT2 không bị phong tỏa, dường như đối trọng với tác dụng của thụ thể AT1. Valsartan không có bất kỳ tác động chủ vận một phần nào trên thụ thể AT1 và có ái lực với thụ thể AT1 lớn hơn nhiều (khoảng 20.000 lần) so với thụ thể AT2. Valsartan không gắn kết hoặc ức chế các thụ thể hormone hoặc các kênh ion quan trọng trong điều hòa tim mạch khác.
Valsartan không ức chế ACE (còn được gọi là kininase II) chuyển đổi Ang I thành Ang II và giáng hóa bradykinin. Vì không có tác động trên ACE và bradykinin hoặc chất P không được tăng tác động, nên các thuốc AllRAs không gây họ. Trong các thử nghiệm lâm sàng so sánh valsartan với thuốc ức chế ACE, tỷ lệ ho khan ở bệnh nhân điều trị với valsartan ít hơn có ý nghĩa (p < 0,05) so với bệnh nhân điều trị với thuốc ức chế ACE (lần lượt là 2,6% so với 7,9%). Trong một thử nghiệm lâm sàng ở những bệnh nhân có tiền sử họ khan khi điều trị với thuốc ức chế ACE, 19,5% bệnh nhân dùng valsartan và 19,0% bệnh nhân dùng thuốc lợi tiểu thiazide bị họ so với 68,5% bệnh nhân điều trị với thuốc ức chế ACE (p<0,05 ).
Dược động học
Hấp thu
Sau khi uống valsartan, nồng độ đỉnh của valsartan trong huyết tương đạt được sau 2-4 giờ. Sinh khả dụng tuyệt đối trung bình là 23%. Thức ăn làm giảm diện tích dưới đường cong (AUC: Area Under the Curve) của valsartan khoảng 40% và nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) khoảng 50%, khoảng 8 giờ sau khi uống thuốc, nồng độ valsartan trong huyết tương tương tự nhau đối với nhóm ăn và nhóm không ăn. Tuy nhiên, sự giảm AUC này không đi kèm với sự giảm đáng kể hiệu quả điều trị về mặt lâm sàng, và do đó, valsartan có thể được dùng cùng hoặc không cùng với thức ǎn.
Phân bố
Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định của valsartan sau khi tiêm tĩnh mạch là khoảng 17 lít, điều này cho thấy rằng valsartan không phân bố rộng ở các mô. Valsartan liên kết mạnh với protein huyết thanh (94% - 97%), chủ yếu là albumin huyết thanh.
Chuyển hóa
Valsartan không chuyển hóa ở mức độ cao vì chỉ khoảng 20% liều dùng được ghi nhận dưới dạng chất chuyển hóa. Một chất chuyển hóa hydroxy đã được xác định trong huyết tương ở nồng độ thấp (dưới 10% AUC của valsartan). Chất chuyển hóa này không có hoạt tính về mặt dược lý.
Thải trừ
Valsartan có động học phân rã theo nhiều pha (t1/2 α <1 giờ và t1/2 β khoảng 9 giờ). Valsartan được thải trừ chủ yếu qua mật vào phân (khoảng 83% liều dùng) và qua thận vào nước tiểu (khoảng 13% liều dùng), chủ yếu dưới dạng không chuyển hóa. Sau khi tiêm tĩnh mạch, độ thanh thải valsartan trong huyết tương là khoảng 2 lít/giờ và độ thanh thải qua thận là 0,62 lít/giờ (khoảng 30% tổng độ thanh thải). Thời gian bán thải của valsartan là 6 giờ.
Bệnh nhân suy tim
Thời gian trung bình để đạt nồng độ đỉnh và thời gian bán thải của valsartan ở bệnh nhân suy tim tương tự như ở người tình nguyện khỏe mạnh. Giá trị AUC và Cmax của valsartan tỷ lệ thuận với việc tăng liều trong phạm vi dùng thuốc lâm sàng (40 - 160 mg x 2 lần/ngày). Hệ số tích lũy trung bình khoảng 1,7. Độ thanh thải của valsartan sau khi uống khoảng 4,5 lít/giờ. Tuổi tác không ảnh hưởng đến độ thanh thải ở bệnh nhân suy tim.
Các đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi
Ở người cao tuổi, nồng độ valsartan cao hơn một chút so với người trẻ tuổi; tuy nhiên, điều này không có ý nghĩa về mặt lâm sàng.
Suy thận
Như dự đoán về một thuốc mà độ thanh thải qua thận chỉ chiếm 30% tổng độ thanh thải trong huyết tương, không có mối tương quan nào giữa chức năng thận và nồng độ valsartan. Do đó không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinine > 10 ml/phút). Hiện chưa có kinh nghiệm về việc sử dụng valsartan ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinine < 10 ml/phút và bệnh nhân đang thẩm phân máu, do đó nên sử dụng valsartan một cách thận trọng ở những bệnh nhân này.
Valsartan liên kết mạnh với protein huyết tương và thẩm phân máu không loại bỏ được valsartan.
Suy gan
Khoảng 70% liều hấp thu được thải trừ qua mật, chủ yếu dưới dạng không chuyển hóa. Valsartan ít chuyển hóa. Tăng gấp đôi AUC đã được ghi nhận ở những bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình so với người khỏe mạnh. Tuy nhiên, không có mối tương quan nào giữa nồng độ valsartan trong huyết tương với mức độ suy gan. Valsartan chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân suy gan nặng.
Trẻ em
Trong một nghiên cứu ở 26 trẻ em tăng huyết áp (từ 1 tuổi đến 16 tuổi) dùng một liều duy nhất hỗn dịch valsartan (trung bình: 0,9 - 2 mg/kg, với liều tối đa là 80 mg), độ thanh thải (lít/giờ/kg) của valsartan ở trẻ từ 1 - 16 tuổi tương tự như ở người lớn dùng cùng thuốc.
Trẻ em suy thận
Việc sử dụng valsaratn ở bệnh nhân trẻ em có độ thanh thải creatinine < 30 ml/phút và bệnh nhân trẻ em đang thẩm phân máu chưa được nghiên cứu, do đó không khuyến cáo dùng valsartan ở những bệnh nhân này. Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân trẻ em có độ thanh thải creatinine > 30 ml/phút. Cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận và kali huyết thanh.
Cách dùng Thuốc Savi Valsartan 40mg
Cách dùng
Thuốc dùng đường uống, có thể uống cùng hoặc không cùng với thức ăn. Nên uống thuốc với nước.
Đối với liều 20 mg/lần: Dùng thuốc khác có hàm lượng phù hợp.
Ngừng dùng thuốc: Nếu ngừng uống thuốc bệnh có thể trầm trọng hơn. Bệnh nhân không nên ngừng uống thuốc trừ khi có chỉ định của bác sĩ.
Liều dùng
Nhồi máu cơ tim gần đây
Ở những bệnh nhân ổn định về mặt lâm sàng, có thể bắt đầu điều trị sớm nhất là 12 giờ sau khi bị nhồi máu cơ tim. Sau liều ban đầu 20 mg x 2 lần/ngày, liều valsartan nên được điều chỉnh thành 40 mg, 80 mg và 160 mg x 2 lần/ngày trong vài tuần sau đó.
Liều tối đa mục tiêu là 160 mg x 2 lần/ngày. Nói chung, bệnh nhân nên đạt được mức liều 80 mg x 2 lần/ngày trong hai tuần sau khi bắt đầu điều trị và liều tối đa mục tiêu, 160 mg x 2 lần/ngày, đạt được sau ba tháng, dựa trên khả năng dung nạp của bệnh nhân. Nếu xảy ra tụt huyết áp có triệu chứng hoặc rối loạn chức năng thận, nên xem xét giảm liều.
Có thể dùng valsartan cho những bệnh nhân đang điều trị với các liệu pháp điều trị sau nhồi máu cơ tim khác, ví dụ: Thuốc làm tan huyết khối, acetylsalicylic acid, thuốc chẹn beta, statin và thuốc lợi tiểu. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời valsartan với thuốc ức chế ACE.
Đánh giá bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim luôn phải bao gồm đánh giá chức năng thận.
Suy tim
Liều khởi đầu khuyến cáo là 40 mg x 2 lần/ngày. Tăng liều lên 80 mg và 160 mg x 2 lần/ngày nên được thực hiện trong khoảng thời gian ít nhất hai tuần đến liều cao nhất, theo sự dung nạp của bệnh nhân. Cần cân nhắc giảm liều các thuốc lợi tiểu dùng đồng thời với valsartan. Liều tối đa hàng ngày được dùng trong các thử nghiệm lâm sàng là 320 mg chia làm nhiều lần.
Có thể sử dụng valsartan đồng thời với các liệu pháp điều trị suy tim khác. Tuy nhiên, không khuyến cáo sử dụng đồng thời bộ ba thuốc ức chế ACE, valsartan và thuốc chẹn beta hoặc thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali.
Đánh giá bệnh nhân suy tim luôn phải bao gồm đánh giá chức năng thận.
Tăng huyết áp
Trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi
Liều khởi đầu là 40 mg x 1 lần/ngày đối với trẻ em cân nặng dưới 35 kg và 80 mg x 1 lần/ngày đối với trẻ em cân nặng từ 35 kg trở lên. Liều valsartan nên được điều chỉnh dựa trên đáp ứng huyết áp và khả năng dung nạp của bệnh nhân. Tham khảo bảng bên dưới để biết liều tối đa được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng. Liều cao hơn liều liệt kê trong bảng bên dưới chưa được nghiên cứu và do đó không khuyến cáo dùng.
| Cân nặng (W) | Liều tối đa nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng |
|---|---|
| 18 kg ≤ W < 35 kg | 80 mg |
| 35 kg ≤ W < 80 kg | 160 mg |
| 80 kg ≤ W < 160 kg | 320 mg |
Các đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi.
Bệnh nhân suy thận
Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân người lớn có độ thanh thải creatinine > 10 ml/phút.
Bệnh nhân suy gan
Chống chỉ định dùng valsartan ở bệnh nhân suy gan nặng, xơ gan mật và bệnh nhân ứ mật. Ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình không có ứ mật, liều valsartan không được vượt quá 80 mg.
Trẻ em
- Trẻ em từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi bị suy thận: Việc sử dụng valsartan cho bệnh nhân trẻ em có độ thanh thải creatinine < 30 ml/phút và bệnh nhân trẻ em đang thẩm phân máu chưa được nghiên cứu, do đó không khuyến cáo dùng valsartan cho những bệnh nhân này. Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân trẻ em có độ thanh thải creatinine > 30 ml/phút. Cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận và kali huyết thanh.
- Trẻ em từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi bị suy gan: Giống như ở người lớn, chống chỉ định dùng valsartan ở bệnh nhân trẻ em suy gan nặng, xơ gan mật và bệnh nhân ứ mật. Kinh nghiệm lâm sàng về việc sử dụng valsartan ở bệnh nhân trẻ em suy gan nhẹ đến trung bình còn hạn chế. Liều valsartan không được vượt quá 80 mg ở những bệnh nhân này.
- Trẻ em suy tim và nhồi máu cơ tim gần đây: Không khuyến cáo dùng valsartan để điều trị suy tim hoặc nhồi máu cơ tim gần đây ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi do thiếu dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Làm gì khi dùng quá liều?
Triệu chứng
Quá liều valsartan có thể làm tụt huyết áp rõ rệt, dẫn đến giảm ý thức, trụy tuần hoàn và/hoặc sốc.
Cách xử trí
Các biện pháp điều trị phụ thuộc vào thời gian uống quá liều, loại và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng; sự ổn định tuần hoàn là quan trọng hàng đầu.
Nếu xảy ra tụt huyết áp, bệnh nhân nên được đặt ở tư thế nằm ngửa và tiến hành điều chỉnh thể tích máu.
Thẩm phân máu không loại bỏ được valsartan.
Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất.
Làm gì khi quên 1 liều?
Nếu quên uống 1 lần thuốc, uống ngay khi nhớ ra, càng sớm càng tốt. Nếu gần đến thời điểm uống liều tiếp theo, bỏ qua liều quên uống và dùng liều tiếp theo như lịch thông thường. Không uống gấp đôi liều để bù liều quên uống (hoặc tham khảo ý kiến của bác sĩ hay dược sĩ).
Tác dụng phụ
Khi sử dụng thuốc SaVi Valsartan bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR):
Ngừng uống thuốc và gặp bác sĩ ngay nếu có bất kỳ tác dụng không mong muốn nào sau đây:
- Phù mặt, môi, lưỡi hoặc họng.
- Khó thở hoặc khó nuốt.
- Mày đay, ngứa.
Tóm tắt các ADR:
Trong các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng ở bệnh nhân người lớn tăng huyết áp, tỷ lệ chung của các tác dụng không mong muốn là tương đương với giả dược và phù hợp với dược lý của valsartan. Tỷ lệ ADR không liên quan đến liều hoặc thời gian điều trị và cũng không liên quan đến giới tính, tuổi hoặc chủng tộc.
Các tác dụng không mong muốn ghi nhận trong các nghiên cứu lâm sàng, sau khi thuốc lưu hành trên thị trường và trong phòng thí nghiệm được liệt kê bên dưới theo hệ cơ quan và tần suất: Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10); thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10); ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100); hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000); rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000) và chưa rõ tần suất (không xác định được tần suất từ dữ liệu hiện có). Trong mỗi tần suất, tác dụng không mong muốn được liệt kê theo mức độ nghiêm trọng giảm dần.
Các tác dụng không mong muốn ghi nhận sau khi thuốc lưu hành trên thị trường và trong phòng thí nghiệm được liệt kê ở mục “Chưa rõ tần suất".
Tăng huyết áp
Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Chưa rõ tần suất: Giảm hemoglobin, giảm hematocrit, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu.
Rối loạn hệ miễn dịch: Chưa rõ tần suất: Quá mẫn bao gồm bệnh huyết thanh.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Chưa rõ tần suất: Tăng kali huyết thanh, hạ natri huyết.
Rối loạn thính giác: Ít gặp: Chóng mặt.
Rối loạn mạch máu: Chưa rõ tần suất: Viêm mạch.
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: Ít gặp: Ho.
Rối loạn hệ tiêu hóa: Ít gặp: Đau bụng.
Rối loạn gan - mật: Chưa rõ tần suất: Tăng các chỉ số xét nghiệm chức năng gan bao gồm tăng bilirubin huyết thanh.
Rối loạn da và mô dưới da: Chưa rõ tần suất: Phù mạch, viêm da bọng nước, phát ban, ngứa.
Rối loạn cơ xương và các mô liên kết: Chưa rõ tần suất: Đau cơ.
Rối loạn thận và tiết niệu: Chưa rõ tần suất: Suy thận bao gồm tăng creatinine huyết thanh.
Rối loạn chung và vị trí dùng thuốc: Ít gặp: Mệt mỏi.
Trẻ em
Tăng huyết áp
Tác dụng hạ huyết áp của valsartan được đánh giá trong hai nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi (mỗi nghiên cứu sau đó được kéo dài thời gian nghiên cứu) và một nghiên cứu nhãn mở. Các nghiên cứu này gồm 711 bệnh nhân trẻ em từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi có và không có bệnh thận mạn tính (CKD: Chronic Kidney Disease), trong đó có 560 bệnh nhân dùng valsartan. Ngoại trừ các rối loạn tiêu hóa riêng biệt (như đau bụng, buồn nôn, nôn) và chóng mặt, không có sự khác biệt về loại, tần suất và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng không mong muốn giữa bệnh nhân trẻ em từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi và bệnh nhân người lớn.
Đánh giá nhận thức và phát triển thần kinh của bệnh nhân trẻ em từ 6 tuổi đến 16 tuổi cho thấy không có ảnh hưởng bất lợi tổng thể về mặt lâm sàng sau khi điều trị với valsartan đến một năm.
Một phân tích tổng hợp ở 560 bệnh nhân trẻ em tăng huyết áp (từ 6-17 tuổi) điều trị với valsartan đơn trị [n = 483] hoặc liệu pháp hạ huyết áp kết hợp bao gồm kết hợp với valsartan [n = 77]. Trong số 560 bệnh nhân, 85 (15,2%) bệnh nhân trẻ em mắc bệnh thận mạn tính (GFR ban đầu < 90 ml/phút/1,73m2). Nhìn chung, 45 (8,0%) bệnh nhân ngừng nghiên cứu do các tác dụng không mong muốn; 111 (19,8%) bệnh nhân thường bị đau đầu (5,4%), chóng mặt (2,3%) và tăng kali huyết (2,3%). Ở bệnh nhân CKD, các ADR thường gặp nhất là tăng kali huyết (12,9%), nhức đầu (7,1%), tăng creatinine huyết (5,9%) và tụt huyết áp (4,7%). Ở bệnh nhân không mắc CKD, ADR thường gặp nhất là nhức đầu (5,1%) và chóng mặt (2,7%). Các ADR thường xảy ra ở những bệnh nhân điều trị kết hợp valsartan với các thuốc điều trị tăng huyết áp khác hơn so với đơn trị liệu với valsartan.
Tác dụng hạ huyết áp của valsartan ở trẻ em từ 1 tuổi đến dưới 6 tuổi được đánh giá trong ba nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi (mỗi nghiên cứu sau đó được kéo dài thời gian nghiên cứu). Trong nghiên cứu đầu tiên ở 90 trẻ em từ 1 tuổi đến dưới 6 tuổi, hai trường hợp tử vong và một số trường hợp riêng biệt có tăng transaminase gan rõ rệt. Những trường hợp này xảy ra trong quần thể mắc nhiều bệnh đồng thời. Mối quan hệ nhân quả với valsartan vẫn chưa được thiết lập.
Trong hai nghiên cứu tiếp theo ở 202 trẻ em chọn ngẫu nhiên từ 1 tuổi đến dưới 6 tuổi, không có sự gia tăng transaminase gan rõ rệt hoặc tử vong nào xảy ra khi điều trị với valsartan.
Trong một phân tích tổng hợp của hai nghiên cứu nối tiếp nhau ở 202 trẻ em tăng huyết áp (từ 1 tuổi đến dưới 6 tuổi), tất cả bệnh nhân được điều trị đơn trị liệu với valsartan trong giai đoạn mù đôi (không bao gồm giai đoạn ngừng sử dụng giả dược). Trong số này, 186 bệnh nhân tiếp tục trong nghiên cứu kéo dài hoặc giai đoạn nhãn mở. Trong số 202 bệnh nhân, 33 (16,3%) bệnh nhân suy thận mạn tính (eGFR ban đầu < 90 ml/phút). Trong giai đoạn mù đôi, hai bệnh nhân (1%) ngừng thuốc do tác dụng không mong muốn và trong giai đoạn nhãn mở hoặc kéo dài, bốn bệnh nhân (2,1%) ngừng thuốc do tác dụng không mong muốn. Trong giai đoạn mù đôi, 13 (7,0%) bệnh nhân gặp ít nhất một ADR. Các ADR thường gặp nhất là nôn n = 3 (1,6%) và tiêu chảy n = 2 (1,1%). Có một ADR (tiêu chảy) ở nhóm CKD. Trong giai đoạn nhãn mở, 5,4% bệnh nhân (10/186) có ít nhất một ADR. ADR thường gặp nhất là giảm cảm giác thèm ăn, được ghi nhận ở hai bệnh nhân (1,1%). Trong cả giai đoạn mù đôi và giai đoạn nhãn mở, tăng kali huyết được ghi nhận ở một bệnh nhân mỗi giai đoạn. Không có trường hợp tụt huyết áp hoặc chóng mặt trong giai đoạn mù đôi hoặc nhãn mở.
Tăng kali huyết thường được quan sát thấy ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 1 tuổi đến dưới 18 tuổi mắc bệnh thận mạn tính. Nguy cơ tăng kali huyết ở trẻ từ 1 tuổi đến 5 tuổi có thể cao hơn so với trẻ từ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Hồ sơ an toàn ghi nhận trong các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng ở bệnh nhân người lớn sau nhồi máu cơ tim và/hoặc suy tim khác với hồ sơ an toàn tổng thể ghi nhận ở bệnh nhân tăng huyết áp. Điều này có thể liên quan đến những bệnh nền bệnh nhân đang mắc phải. Các ADR xảy ra ở bệnh nhân người lớn sau nhồi máu cơ tim và/hoặc bệnh nhân suy tim được liệt kê bên dưới.
Sau nhồi máu cơ tim và/hoặc suy tim (chỉ nghiên cứu ở bệnh nhân người lớn)
Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Chưa rõ tần suất: Giảm tiểu cầu.
Rối loạn hệ miễn dịch: Chưa rõ tần suất: Quá mẫn bao gồm bệnh huyết thanh.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng:
- Ít gặp: Tăng kali huyết.
- Chưa rõ tần suất: Tăng kali huyết thanh, hạ natri huyết.
Rối loạn hệ thần kinh:
- Thường gặp: Chóng mặt, chóng mặt tư thế.
- Ít gặp: Ngất, nhức đầu.
Rối loạn thính giác: Ít gặp: Chóng mặt.
Rối loạn tim: Ít gặp: Suy tim.
Rối loạn mạch máu:
- Thường gặp: Tụt huyết áp, tụt huyết áp tư thế.
- Chưa rõ tần suất: Viêm mạch.
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: Ít gặp: Ho.
Rối loạn hệ tiêu hóa: Ít gặp: Buồn nôn, tiêu chảy.
Rối loạn gan - mật: Chưa rõ tần suất: Tăng các chỉ số xét nghiệm chức năng gan.
Rối loạn da và mô dưới da:
- Thường gặp: Phù mạch.
- Chưa rõ tần suất: Viêm da bọng nước, phát ban, ngứa.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết: Chưa rõ tần suất: Đau cơ.
Rối loạn thận và tiết niệu:
- Thường gặp: Suy thận.
- Ít gặp: Suy thận cấp, tăng creatinine huyết thanh.
- Chưa rõ tần suất: Tăng BUN.
Rối loạn chung và tại vị trí dùng thuốc: Ít gặp: Suy nhược, mệt mỏi.
Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Trong quá trình nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát ở người tăng huyết áp, các ADR tương đương giữa nhóm điều trị bằng valsartan và nhóm dùng giả dược. Tần suất ADR không phụ thuộc vào liều, thời gian điều trị, tuổi, giới tính hoặc chủng tộc.
Nếu xảy ra các ADR nghiêm trọng, ngưng dùng thuốc và áp dụng các biện pháp điều trị thích hợp.
Thông báo cho thầy thuốc các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Bảo quản
Hạn sử dụng: 36 tháng
Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.
Để xa tầm tay trẻ em.
Savi