Thuốc Ultrox 10mg Nobel điều trị tăng cholesterol máu, ngừa các biến cố tim mạch (2 vỉ x 14 viên)

  • Muaday.vn
  • 26 Tháng 01 2026
  • 69 phút
Thuốc Ultrox 10mg Nobel điều trị tăng cholesterol máu, ngừa các biến cố tim mạch (2 vỉ x 14 viên)
Mô tả

Thuốc Ultrox là sản phẩm của Nobelfarma Ilac Sanayii ve Ticaret A.S - Thổ Nhĩ Kỳ, thành phần chính là Rosuvastatin. Thuốc dùng để điều trị tăng cholesterol máu và phòng ngừa các biến cố tim mạch.

Danh mục Thuốc
Thương hiệu Thổ Nhĩ Kỳ NOBELFARMA
Số đăng ký VN-21190-18
Dạng bào chế Viên nén bao phim
Quy cách Hộp 2 Vỉ x 14 Viên
Thành phần Rosuvastatin
Nhà sản xuất Thổ Nhĩ Kỳ
Nước sản xuất Thổ Nhĩ Kỳ
Thuốc cần kê toa

Thành phần của Thuốc Ultrox 10mg

Thông tin thành phần Hàm lượng
Rosuvastatin 10mg

Công dụng của Thuốc Ultrox 10mg

Chỉ định

Thuốc Ultrox được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:

  • Điều trị tăng cholesterol máu: Ở người lớn, thanh thiếu niên và trẻ em từ 6 tuổi trở lên tăng cholesterol máu nguyên phát (loại IIa kể cả tăng cholesterol máu gia đình kiểu dị hợp tử) hoặc rối loạn lipid máu hỗn hợp (loại Ilb): Dùng Ultrox như là một thuốc hỗ trợ cho chế độ ăn kiêng khi bệnh nhân chưa đáp ứng đầy đủ với chế độ ăn kiêng và các liệu pháp không dùng thuốc khác (ví dụ như tập thể dục, giảm cân) là chưa đủ. Tăng cholesterol máu gia đình kiểu đồng hợp tử: Dùng Ultrox như là một thuốc hỗ trợ cho chế độ ăn kiêng và các biện pháp điều trị hạ lipid khác (ví dụ như ly trích LDL máu) hoặc nếu các điều trị này chưa phù hợp.
  • Phòng ngừa các biến cố tim mạch: Phòng ngừa các biến cố tim mạch chủ yếu ở những bệnh nhân được ước tính có nguy cơ cao về biển cố tim mạch đầu tiên, dùng Ultrox như thuốc hỗ trợ để điều chỉnh các yếu tố rủi ro khác.

Dược lực học

Nhóm dược lý: Thuốc ức chế men khử HMG-CoA.

Mã ATC: C10A A07

Cơ chế hoạt động:

Rosuvastatin là một chất ức chế HMG-CoA reductase cạnh tranh và có chọn lọc, enzym chuyển đổi 3-hydroxy-3-methylglutaryl coenzym A thành mevalonat, một tiền chất cholesterol. Nơi hoạt động chủ yếu của rosuvastatin là gan, cơ quan đích để giảm cholesterol.

Rosuvastatin làm tăng số lượng thụ thể LDL trên bề mặt tế bào gan, tăng cường sự hấp thu và dị hóa của LDL và ức chế sự tổng hợp VLDL ở gan, do đó làm giảm tổng số các hạt VLDL và LDL.

Tác dụng dược lực:

Rosuvastatin làm giảm sự tăng LDL-cholesterol, cholesterol toàn phần và triglycerid và làm tăng HDL-cholesterol. Rosuvastatin cũng làm giảm Apo B, Non-HDL-C, VLDL-C, VLDL-TG và tăng ApoA-I (xem Bảng 3). Rosuvastatin cũng làm giảm LDL-C/HDL-C, C/HDL-C toàn phần và Non-HDL-C/HDL-C và tỷ lệ ApoB/ApoA-I

Bảng 3: Đáp ứng theo liều ở bệnh nhân tăng cholesterol máu nguyên phát (loại IIa và Ilb) (mức thay đổi trung bình (%) so với trước khi điều trị)

Liều lượng

Số bệnh nhân

LDL-C

C Toàn phần

HDL-C

TG

Non-HDL-C

АроB

ApoA-I

Giả dược

13

-7

-5

3

-3

-7

-3

0

5

17

-45

-33

13

-35

-44

-38

4

10

17

-52

-36

14

-10

-48

-42

4

20

17

-55

-40

8

-23

-51

-46

5

40

18

-63

-46

10

-28

-60

-54

0

Tác dụng trị liệu đạt được trong vòng 1 tuần sau khởi đầu điều trị và 90% đáp ứng tối ưu đạt được trong 2 tuần. Đáp ứng tối ưu thường đạt được vào khoảng 4 tuần và được duy trì sau đó.

Hiệu quả và độ an toàn lâm sàng:

Ultrox có hiệu quả ở bệnh nhân người lớn tăng cholesterol máu, có hay không có tăng triglycerid máu, bất kể chủng tộc, giới tính, tuổi tác và ở các nhóm bệnh nhân đặc biệt như bệnh nhân tiểu đường, hoặc bệnh nhân tăng cholesterol máu gia đình.

Từ các dữ liệu tổng hợp pha III, rosuvastatin đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc điều trị ở đa số bệnh nhân tăng cholesterol máu loại IIa và IIb (LDL-C cơ bản trung bình khoảng 4,8 mmol/lít) theo các mục tiêu điều trị của Hội Xơ vữa Mạch máu châu Âu (European Atherosclerosis Society - EAS; 1998) công nhận; khoảng 80% số bệnh nhân được điều trị Rosuvastatin 10 mg đạt các mục tiêu điều trị của EAS về mức LDL-C (< 3 mmol/lít). 

Trong một nghiên cứu mở, 435 bệnh nhân tăng cholesterol máu gia đình kiểu dị hợp khi dùng rosuvastatin 20 mg đến 80 mg trong một thiết kế điều chỉnh liều tăng dần. Cho thấy tất cả các liều có tác dụng có lợi trên các thông số lipid và đạt mục tiêu điều trị.

Sau khi điều chuẩn liều hàng ngày đến 40 mg (12 tuần điều trị), LDL-C đã giảm 53%. Có 33% bệnh nhân đạt được các mục tiêu của EAS về mức LDL-C (< 3 mmol/lít).

Trong một thử nghiệm nhãn mở, điều chỉnh liều tăng dần, 42 bệnh nhân tăng cholesterol máu gia đình kiểu đồng hợp tử được đánh giá đáp ứng với rosuvastatin 20 - 40 mg. Trong tổng bệnh nhân nghiên cứu, đều có mức giảm LDL-C trung bình là 22%.

Trong các nghiên cứu lâm sàng với số lượng bệnh nhân nhất định, rosuvastatin đã được chứng minh là có hiệu quả phụ trợ trong việc làm giảm triglycerid khi sử dụng kết hợp với fenofibrat và tăng mức HDL-C khi sử dụng kết hợp với niacin (xem phần Thận trọng).

Trong một nghiên cứu lâm sàng đa trung tâm, mù đôi, đối chứng với placebo (METEOR), 984 bệnh nhân từ 45 đến 70 tuổi và có nguy cơ thấp đối với bệnh tim mạch vành (thang điểm nguy cơ Framingham < 10% trong 10 năm), LDL-C trung bình là 4,0 mmol/lít (154,5 mg/dL), nhưng xơ vữa động mạch dưới lâm sàng (phát hiện bởi độ dày nội trung mạc động mạch cảnh) ngẫu nhiên với rosuvastatin 40 mg mỗi ngày một lần hoặc giả dược trong 2 năm. Rosuvastatin giảm đáng kể tỷ lệ tiến triển của độ dày nội trung mạc động mạch cảnh (CIMT) tối đa với 12 vị trí đo động mạch cảnh so sánh với giả dược bằng -0,0145 mm/năm [95% khoảng tin cậy -0,0196, 0,0093; p < 0,0001]. Tỷ lệ thay đổi so với ban đầu là -0,0014 mm/năm (-0.12%/năm (không có ý nghĩa) đối với rosuvastatin so với giả dược là +0,0131 mm/năm (1,12%/năm (p < 0,0001)). Không có tương quan trực tiếp giữa giảm CIMT và giảm nguy cơ biến cố tim mạch vẫn chưa được chứng minh. Dân số nghiên cứu trong METEOR nguy cơ thấp bệnh tim mạch vành và không đại diện cho mục tiêu dân số của rosuvastatin 40mg. Liều 40mg chỉ nên được quy định ở những bệnh nhân tăng cholesterol máu nặng có nguy cơ tim mạch cao (xem phần liều dùng).

Nghiên cứu JUPITER (Justification for the Use of statins in Primary prevention: an Intervention Trial Evaluating Rosuvastatin), tác dụng của rosuvastatin về sự xuất hiện của các biến cố bệnh tim mạch xơ vữa động mạch chủ yếu được đánh giá ở 17.802 nam (≥ 50 năm) và nữ (≥ 60 tuổi).

Tham gia nghiên cứu được phân ngẫu nhiên để dùng giả dược (n = 8901) hoặc rosuvastatin 20 mg một lần hàng ngày (n = 8901) và được theo dõi trong một thời gian trung bình 2 năm.

Nồng độ LDL-cholesterol giảm 45% (p < 0,001) trong nhóm rosuvastatin so với nhóm dùng giả dược.

Trong một phân tích phân nhóm hậu kiểm (post-hoc) trên các đối tượng có nguy cơ cao với thang điểm nguy cơ Framingham cơ bản > 20% (1.558 đối tượng) có giảm đáng kể tử vong do tim mạch, đột quỵ và nhồi máu cơ tim (p = 0.028) khi điều trị rosuvastatin so với giả dược. Việc giảm nguy cơ tuyệt đối tỷ lệ biến cố trên 1000 bệnh nhân/năm là 8,8.

Tổng số tử vong không thay đổi trong nhóm có nguy cơ cao này (p = 0,193). Trong một phân tích hậu kiểm post-hoc của phân nhóm có nguy cơ cao của các đối tượng (tổng số 9302 đối tượng) với nguy cơ SCORE cơ bản ≥ 5% (ngoại suy bao gồm các đối tượng trên 65 tuổi) đã có giảm đáng kể tử vong do tim mạch, đột quỵ và nhồi máu cơ tim (p = 0,0003) điều trị rosuvastatin so với giả dược. Việc giảm nguy cơ tuyệt đối trong tỉ lệ các biến cố là 5,1 trên 1000 bệnh nhân/năm. Tổng số tử vong không thay đổi trong nhóm có nguy cơ cao này (p = 0,076).

Trong thử nghiệm JUPITER có 6,6% đối tượng dùng rosuvastatin và 6,2% đối tượng dùng giả dược ngưng dùng thuốc nghiên cứu do một tác dụng ngoại ý. Các biến cố bất lợi phổ biến nhất dẫn đến việc ngưng điều trị là: Đau cơ (0,3% rosuvastatin, 0,2% giả được), đau bụng (0,03% rosuvastatin, 0,02% giả được) và phát ban (0,02% rosuvastatin, 0,03% giả dược). Các tác dụng phụ thường gặp nhất ở tỷ lệ lớn hơn hoặc bằng giả dược là viêm nhiễm đường tiết niệu (8,7% rosuvastatin, 8,6% dùng giả dược), viêm mũi (7,6% rosuvastatin, 7,2% dùng giả dược), đau lưng (7,6% rosuvastatin, 6,9% giả dược) và đau cơ (7,6% rosuvastatin, 6,6% dùng giả được).

Nhóm bệnh nhi:

Trong một nghiên cứu 12 tuần, ngẫu nhiên, đa trung tâm, mù đôi, đối chứng với giả dược, (n = 176, 97 nam và 79 nữ) tiếp theo là pha điều chỉnh liều rosuvastatin, 40 tuần (n = 173, 96 nam và 77 nữ), nhãn mở, bệnh nhân 10 - 17 tuổi (Tanner độ II - V, bệnh nhi nữ phải có kinh nguyệt ít nhất 1 năm) với tăng cholesterol máu gia đình dị hợp dùng rosuvastatin 5, 10 hoặc 20 mg hoặc giả dược mỗi ngày trong 12 tuần và sau đó tất cả dùng rosuvastatin hàng ngày trong 40 tuần. Vào nghiên cứu, khoảng 30% bệnh nhân 10 - 13 tuổi và khoảng 17%, 18%, 40%, và 25% có Tanner độ II, III, IV, V, tương ứng. LDL-C đã giảm 38,3%, 44,6%, và 50,0% bởi rosuvastatin 5, 10 và 20 mg, tương ứng, so với 0,7% giả dược.

Vào cuối của tuần 40, nhãn mở, điều chỉnh liều mục tiêu lên tối đa là 20 mg mỗi ngày một lần, 70 bệnh nhân trong số 173 bệnh nhân (40,5%) đã đạt được LDL-C mục tiêu dưới 2,8 mmol/I.

Sau 52 tuần nghiên cứu điều trị, không có ảnh hưởng đến tăng trưởng, cân nặng, chỉ số BMI hoặc trưởng thành tình dục phát hiện (xem phần Thận trọng). Thử nghiệm này (n = 176) không phù hợp để so sánh các tác dụng phụ.

Rosuvastatin cũng đã được nghiên cứu trong một nghiên cứu 2 năm nhãn mở, chỉnh liều đến mục tiêu ở 198 trẻ em với tăng cholesterol máu dị hợp gia đình từ 6 đến 17 tuổi (88 nam và 110 nữ, Tanner độ < II đến V). Liều khởi đầu cho tất cả các bệnh nhân là rosuvastatin 5mg ngày một lần. Bệnh nhân tuổi từ 6 - 9 tuổi (n = 64) có thể điều chỉnh đến liều tối đa 10mg ngày một lần và bệnh nhân tuổi từ 10 đến 17 tuổi (n = 134) với liều tối đa 20 mg mỗi ngày một lần.

Sau 24 tháng điều trị với rosuvastatin, giảm phần trăm có nghĩa LS từ giá trị LDL-C cơ bản là -43% (ban đầu: 236mg/dL, tháng 24: 133 mg/dL). Cho mỗi nhóm tuổi, giảm LDL-C phần trăm có nghĩa LS từ các giá trị cơ bản -43% (ban đầu: 234 mg/dL, tháng 24: 124 mg/dL), -45% (ban đầu: 234 mg/dL, 124 mg/dL), và -35% (ban đầu: 241 mg/dL, tháng 24: 153 mg/dL) trong các nhóm tuổi 6 đến < 10, 10 đến < 14, và 14 đến < 18, tương ứng.

Rosuvastatin 5mg, 10mg, 20mg và cũng đạt được những thay đổi có ý nghĩa thống kê so với ban đầu các thay đổi lipid và lipoprotein thứ cấp sau: HDL-C, TC, non-HDL-C, LDL-C/HDL-C, TC/HDL-C, TG/HDL-C, non-HDL-C/HDL-C, ApoB, ApoB/ApoA-I.

Những thay đổi này là theo hướng cải thiện đáp ứng lipid và được duy trì hơn 2 năm.

Không ảnh hưởng đến tăng trưởng, cân nặng, chỉ số BMI hoặc trưởng thành tình dục được phát hiện sau 24 tháng điều trị (xem mục Thận trọng).

Cơ quan y tế châu Âu đã miễn nghĩa vụ nộp kết quả nghiên cứu với rosuvastatin trong tất cả phần của nhóm của dân số trẻ em trong điều trị tăng cholesterol máu gia đình các đồng hợp tử, rối loạn lipid máu kết hợp (hỗn hợp) nguyên phát và trong ngăn ngừa các bệnh tim mạch (xem phần Liều dùng để biết thông tin về việc sử dụng cho trẻ em).

Dược động học

Hấp thu: Nồng độ rosuvastatin trong huyết tương tối đa đạt được khoảng 5 giờ sau khi uống. Sinh khả dụng tuyệt đối khoảng 20%

Phân bố: Rosuvastatin được phân bố rộng rãi ở gan là nơi chính tổng hợp cholesterol và thanh thải LDL-C. Thể tích phân bố của rosuvastatin khoảng 134 lít. Khoảng 90% rosuvastatin gắn kết với protein huyết tương, chủ yếu với albumin.

Chuyển hóa: Rosuvastatin chuyển hóa hạn chế (khoảng 10%). Trong nghiên cứu in vitro về chuyển hóa có sử dụng tế bào gan người cho thấy rằng rosuvastatin là một cơ chất yếu cho sự chuyển hóa dựa trên cytochrom P450. CYP2C9 là isoenzym chính tham gia vào quá trình chuyển hóa, với 2C19, 3A4 và 2D6 tham gia ở mức độ thấp hơn. Các chất chuyển hóa chính được xác định là N-desmethyl và lacton. Chất chuyển hóa N-desmethyl có hoạt tính ít hơn khoảng 50% so với rosuvastatin trong khi dạng lacton được xem là không có hoạt tính trên lâm sàng.

Rosuvastatin chiếm hơn 90% hoạt tính ức chế HMG-CoA reductase trong tuần hoàn.

Thải trừ: Khoảng 90% liều rosuvastatin được thải trừ ở dạng không thay đổi qua phân (bao gồm hoạt chất được hấp thụ và không được hấp thụ) và phần còn lại được thải trừ qua nước tiểu. Khoảng 5% được thải trừ dưới dạng không thay đổi qua nước tiểu. Thời gian bán thải trong huyết tương khoảng 19 giờ. Thời gian bán thải không tăng khi dùng liều cao hơn. Độ thanh thải trong huyết tương trung bình khoảng 50 lít/giờ (hệ số biến thiên 21,7%). Như với các thuốc ức chế HMG-CoA reductase khác, sự vận chuyển rosuvastatin qua gan liên quan đến chất vận chuyển qua màng OATP-C. Chất vận chuyển này rất quan trọng trong việc đào thải rosuvastatin qua gan.

Độ tuyến tính: Mức tiếp xúc toàn thân của rosuvastatin tăng tỷ lệ thuận với liều dùng. Không có sự thay đổi về các thông số dược động học sau nhiều liều dùng hàng ngày.

Những nhóm bệnh nhân đặc biệt:

Tuổi và giới tính: Không có tác dụng liên quan đến tuổi tác hay giới tính trên lâm sàng về dược động học của rosuvastatin ở người lớn. Dược động học của rosuvastatin ở trẻ em và thanh thiếu niên với tăng cholesterol máu gia đình dị hợp tử tương tự như ở người lớn tình nguyện.

Chủng tộc: Nghiên cứu dược động học cho thấy tăng gần gấp 2 lần AUC và Cmax trung bình ở các đối tượng châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Việt Nam và Hàn Quốc) so với người da trắng; Châu Á-Ấn Độ cho thấy tăng gần 1,3 lần AUC và Cmax trung bình. Một phân tích dược động học theo quần thể dân cư cho thấy không có sự khác biệt dựa trên lâm sàng dược động giữa nhóm người da trắng và da đen.

Suy thận: Trong một nghiên cứu ở những người có mức độ suy thận khác nhau, bệnh thận nhẹ đến trung bình không ảnh hưởng đến nồng độ rosuvastatin trong huyết tương hoặc chất chuyển hóa N-desmethyl. Đối tượng suy thận nặng (CrCl < 30 ml/phút) có nồng độ thuốc trong huyết tương tăng gấp 3 lần và nồng độ chất chuyển hóa N-desmethyl tăng gấp 9 lần so với người tình nguyện khỏe mạnh. Nồng độ rosuvastatin trong huyết tương ở trạng thái ổn định ở các đối tượng chạy thận nhân tạo cao hơn khoảng 50% so với người tình nguyện khỏe mạnh.

Suy gan: Trong một nghiên cứu ở các đối tượng với mức độ suy gan khác nhau, không có bằng chứng về tăng mức tiếp xúc rosuvastatin toàn thân ở các đối tượng có điểm số Child-Pugh < 7. Tuy nhiên, hai đối tượng có điểm số Child-Pugh 8 và 9 cho thấy tăng mức tiếp xúc rosuvastatin toàn thân ít nhất gấp 2 lần so với các đối tượng có điểm số Child-Pugh thấp hơn. Chưa có kinh nghiệm ở các đối tượng có điểm số Child-Pugh trên 9.

Đa hình di truyền: Các chất ức chế HMG-CoA reductase, bao gồm cả rosuvastatin, liên quan đến chất vận chuyển protein OATPIBI và BCRP. Ở những bệnh nhân đa hình di truyền với SLCOIBI (OATP1B1) và/hoặc ABCG2 (BCRP) có nguy cơ gia tăng mức tiếp xúc với rosuvastatin. Đa hình cá nhân của SLCO1B1 c.521CC và ABCG2 c.421AA liên quan với mức tiếp xúc rosuvastatin (AUC) cao hơn so với kiểu gen SLCO1B1 c.521TT hoặc ABCG2 c.421CC. Kiểu gen cụ thể này chưa được thiết lập trong thực hành lâm sàng, nhưng ở những bệnh nhân được biết có những loại đa hình, liều rosuvastatin dùng hàng ngày thấp được khuyến cáo.

Bệnh nhân Nhi: Hai nghiên cứu dược động học rosuvastatin (viên) dùng cho bệnh nhi có tăng cholesterol máu gia đình dị hợp tử tuổi từ 10 - 17 hoặc 6 - 17 (tổng cộng 214 bệnh nhân) đã chứng minh rằng mức tiếp xúc ở bệnh nhi xuất hiện chỉ bằng hoặc thấp hơn so với bệnh nhân người lớn. Mức tiếp xúc với rosuvastatin đã được dự đoán về liều lượng và thời gian trong khoảng thời gian 2 năm.

Cách dùng Thuốc Ultrox 10mg

Cách dùng

Đường dùng: Đường uống.

Liều dùng

Trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân phải theo một chế độ ăn kiêng chuẩn giảm cholesterol và tiếp tục chế độ ăn kiêng này trong khi điều trị. Liều lượng phải được điều chỉnh theo mục tiêu điều trị và đáp ứng của từng bệnh nhân, sử dụng Hướng dẫn Đồng thuận hiện nay.

Ultrox có thể được dùng bất kỳ thời gian nào trong ngày, có hoặc không có thức ăn.

Điều trị tăng cholesterol máu:

Liều khởi đầu khuyến cáo là 5mg hoặc 10mg/lần, uống mỗi ngày một lần cho cả bệnh nhân chưa từng dùng thuốc nhóm statin và bệnh nhân chuyển từ dùng một chất ức chế HMG CoA reductase khác sang dùng Ultrox. Sự lựa chọn liều khởi đầu nên lưu ý mức độ cholesterol của từng bệnh nhân và nguy cơ tim mạch sau này cũng như các nguy cơ tiềm ẩn của các phản ứng bất lợi. Điều chỉnh liều đến mức liều tiếp theo có thể được thực hiện sau 4 tuần, nếu cần thiết. Vì tần suất tác dụng không mong muốn tăng khi dùng liều 40 mg so với các liều thấp hơn (xem Tác dụng không mong muốn), việc chuẩn liều lần cuối đến 40mg chỉ nên được xem xét cho các bệnh nhân tăng cholesterol máu nặng có nguy cơ cao về bệnh tim mạch (đặc biệt là các bệnh nhân tăng cholesterol máu gia đình), những người mà không đạt được mục tiêu điều trị ở liều 20mg và các bệnh nhân này cần phải được theo dõi thường xuyên. Cần có sự theo dõi chặt chẽ của bác sỹ chuyên khoa khi bắt đầu dùng liều 40mg.

Ngăn ngừa các tai biến tim mạch:

Trong nghiên cứu giảm nguy cơ tai biến tim mạch, liều dùng là 20 mg mỗi ngày.

Bệnh nhi:

Sử dụng thuốc cho bệnh nhi chỉ nên được thực hiện bởi các chuyên gia.

Trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 - 17 tuổi (Tanner độ < II-V)

Ở trẻ em và thanh thiếu niên bị tăng cholesterol máu gia đình kiểu dị hợp tử, liều dùng khởi đầu thông thường là 5 mg/lần/ngày.

  • Ở trẻ em từ 6 đến 9 tuổi bị tăng cholesterol máu gia đình kiểu dị hợp tử, khoảng liều thông thường là 5 - 10 mg, ngày uống một lần. An toàn và hiệu quả của liều lớn hơn 10 mg chưa được nghiên cứu trong dân số này.
  • Đối với trẻ em từ 10 đến 17 tuổi bị tăng cholesterol máu gia đình kiểu dị hợp tử, khoảng liều thông thường là 5 - 20 mg, uống mỗi ngày một lần. An toàn và hiệu quả của liều lớn hơn 20 mg chưa được nghiên cứu ở dân số này.

Chỉnh liều nên được tiến hành tùy theo sự đáp ứng và khả năng dung nạp ở mỗi cá nhân bệnh nhi, theo khuyến cáo của các đề nghị điều trị nhi khoa (xem phần Thận trọng).

Trẻ em và thanh thiếu niên nên tuân theo chế độ ăn kiêng chuẩn cholesterol thấp trước khi bắt đầu điều trị rosuvastatin; chế độ ăn kiêng này cần được tiếp tục trong khi điều trị rosuvastatin.

Kinh nghiệm dùng thuốc ở trẻ em tăng cholesterol máu gia đình đồng hợp tử bị giới hạn trong một số ít trẻ em trong độ tuổi từ 8 đến 17 tuổi.

Viên rosuvastatin 40 mg không thích hợp để sử dụng cho các bệnh nhi.

Trẻ em dưới 6 tuổi:

Sự an toàn và hiệu quả sử dụng ở trẻ em dưới 6 tuổi chưa được nghiên cứu. Vì vậy, Ultrox không được khuyến cáo sử dụng cho trẻ em dưới 6 tuổi.

Sử dụng ở người cao tuổi:

Liều khởi đầu 5 mg được khuyến cáo ở bệnh nhân trên 70 tuổi (xem phần Thận trọng). Không cần thiết điều chỉnh liều.

Liều dùng ở những bệnh nhân suy thận:

Không cần thiết điều chỉnh liều ở những bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình. Liều khởi đầu khuyến cáo là 5 mg ở bệnh nhân suy thận vừa (Độ thanh thải creatinin < 60 ml/phút). Liều 40 mg chống chỉ định ở những bệnh nhân suy thận vừa phải. Việc sử dụng Ultrox ở các bệnh nhân suy thận nặng chống chỉ định cho tất cả các liều.

Liều dùng ở bệnh nhân suy gan:

Không có sự gia tăng mức tiếp xúc toàn thân của rosuvastatin ở các bệnh nhân có điểm số Child-Pugh < 7.

Tuy nhiên, mức tiếp xúc toàn thân của rosuvastatin tăng đã được quan sát thấy ở các bệnh nhân có điểm số Child-Pugh 8 và 9. Ở những bệnh nhân này việc đánh giá về chức năng thận nên được xem xét (xem phần Thận trọng). Chưa có kinh nghiệm dùng thuốc ở các bệnh nhân có điểm số Child-Pugh trên 9. Ultrox chống chỉ định ở những bệnh nhân mắc bệnh gan phát triển (xem mục Chống chỉ định).

Chủng tộc:

Tăng mức độ tiếp xúc toàn thân của thuốc đã được ghi nhận ở các đối tượng Châu Á (xem Phần Chống chỉ định, Thận trọng). Do đó nên cân nhắc liều khởi đầu khuyến cáo là 5 mg cho bệnh nhân gốc Á. Các liều 40 mg chống chỉ định ở những bệnh nhân này.

Đa hình di truyền:

Loại đa dạng di truyền cụ thể được biết rằng có thể dẫn đến tăng mức tiếp xúc của rosuvastatin. Đối với những bệnh nhân được biết có các loại đa hình cụ thể như vậy, liều Ultrox hàng ngày thấp hơn được khuyến cáo.

Liều dùng ở những bệnh nhân có các yếu tố dẫn đến bệnh lý cơ:

Liều khởi đầu khuyến cáo là 5 mg ở các bệnh nhân có những yếu tố dẫn đến bệnh lý cơ (xem Phần Thận trọng).

Liều 40 mg chống chỉ định ở một số bệnh nhân này.

Điều trị đồng thời:

Rosuvastatin là một chất nền của chất vận chuyển protein khác nhau (ví dụ như OATP1B1 và BCRP). Các nguy cơ bệnh lý cơ (bao gồm cả tiêu cơ vân) tăng lên khi dùng đồng thời Ultrox với các thuốc nào đó mà có thể làm tăng nồng độ rosuvastatin trong huyết tương do tương tác với các chất vận chuyển protein (ví dụ như cyclosporin và các chất ức chế protease nhất định trong đó có sự kết hợp của ritonavir với atazanavir, lopinavir, và/hoặc tipranavir; (xem Phần Thận trọng và Tương tác thuốc). Bất cứ khi nào có thể, thay thế thuốc khác nên được xem xét, và, nếu cần thiết, xem xét ngưng điều trị Ultrox tạm thời. Trong tình trạng mà dùng đồng thời các thuốc này với Ultrox là không thể tránh khỏi, lợi ích và nguy cơ của việc điều trị đồng thời và điều chỉnh liều Ultrox nên xem xét cẩn thận (xem phần Tương tác thuốc).

Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.

Làm gì khi dùng quá liều?

Không có điều trị cụ thể trong trường hợp quá liều. Trong trường hợp quá liều, bệnh nhân nên được điều trị triệu chứng và biện pháp hỗ trợ được thiết lập theo yêu cầu. Chức năng gan và mức CK cần được theo dõi.

Thẩm phân máu dường như không có lợi.

Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất.

Làm gì khi quên 1 liều?

Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.

Tác dụng phụ

Khi sử dụng thuốc thường gặp các tác dụng không mong muốn (ADR) như:

  • Suy giảm nhận thức (như mất trí nhớ, lú lẫn...).
  • Tăng đường huyết.
  • Tăng HbA1c.

Các phản ứng phụ với rosuvastatin thường nhẹ và thoáng qua. Trong thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát, ít hơn 4% bệnh nhân điều trị rosuvastatin đã bị rút khỏi nghiên cứu do tác dụng phụ.

Dựa trên dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng và kinh nghiệm rộng rãi sau dùng thuốc, sau đây Bảng trình bày các phản ứng bất lợi của rosuvastatin. Phản ứng bất lợi liệt kê dưới đây được phân loại theo tần số và phân loại hệ thống cơ quan (SOC).

Các tần số phản ứng phụ được xếp hạng theo quy ước sau: Phổ biến (≥ 1/100 đến < 1/10); Không phổ biến (≥ 1/1000 đến < 1/100); Hiếm (≥ 1/10.000 đến < 1/1000); Rất hiếm (< 1/10.000); Chưa biết đến (không thể được ước lượng từ dữ liệu có sẵn).

Bảng 2. Phản ứng bất lợi dựa trên dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng và kinh nghiệm sau khi dùng thuốc

Phân loại theo hệ thống cơ quanPhổ biếnKhông phổ biếnHiếmRất hiếmChưa biết đến
Máu và rối loạn hệ mạch bạch huyết  Giảm tiểu cầu  
Rối loạn hệ thống miễn dịch  Phản ứng quá mẫn bao gồm phù mạch  
Rối loạn nội tiếtBệnh tiểu đường1    
Rối loạn tâm thần    Phiền muộn
Rối loạn hệ thần kinh

Đau đầu

Hoa mắt

  

Đa dây thần kinh

Mất trí nhớ

Bệnh lý thần kinh ngoại biên

Rối loạn giấc ngủ (bao gồm cả chứng mất ngủ và ác mộng)

Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất    

Ho

Chứng khó thở

Rối loạn tiêu hóa

Táo bón

Buồn nôn

Bụng đau

 Viêm tụy Tiêu chảy
Rối loạn Gan Mật  Tăng transaminase gan

Bệnh vàng da

Viêm gan siêu vi

 
Rối loạn Cơ xương và mô liên kếtChứng nhứt gân 

Bệnh cơ (bao gồm cả viêm cơ)

Tiêu cơ vân

Đau khớpRối loạn gân, đôi khi biến chứng bệnh hoại tử cơ do gián đoạn miễn dịch qua trung gian
Rối loạn thận và tiết niệu   Đái ra máu 
Rối loạn hệ thống sinh sản và tiết sữa   Tình trạng vú nở lớn ở nam do mất cân bằng hormon 
Rối loạn chung và đường dùngChứng suy nhược   Phù
Tần suất sẽ phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt của các yếu tố nguy cơ (glucose máu lúc đói ≥ 5,6 mmol/L, chỉ số BMI > 30kg/m2, tăng triglycerid, tiền sử tăng huyết áp).

Như với các thuốc ức chế HMG-CoA reductase khác, tỷ lệ mắc các phản ứng có hại của thuốc có xu hướng phụ thuộc liều.

Ảnh hưởng trên thận: Protein niệu, phát hiện bằng cách kiểm tra que thử và chủ yếu ở nguồn gốc ống thận, đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị với rosuvastatin. Thay đổi protein niệu từ không đến có dấu vết ++ hoặc nhiều hơn đã được nhìn thấy ở < 1% bệnh nhân tại một số thời gian trong khi điều trị liều 10 và 20 mg, và khoảng 3% số bệnh nhân được điều trị với liều 40 mg. Tăng ít chuyển từ không có hay có dấu vết + đã được quan sát với liều 20 mg. Trong hầu hết các trường hợp, protein niệu giảm hoặc biến mất một cách tự nhiên khi tiếp tục điều trị. Xem xét các dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng và kinh nghiệm sau khi dùng thuốc cho đến nay vẫn chưa xác định được quan hệ nhân quả giữa protein niệu và bệnh thận cấp hoặc tiến triển.

Đái ra máu đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị với rosuvastatin và dữ liệu thử nghiệm lâm sàng cho thấy sự xuất hiện thấp.

Tác động đến cơ xương: Tác dụng trên xương ví dụ như đau cơ, bệnh cơ (bao gồm cả viêm cơ) và rất hiếm, tiêu cơ vân có và không có suy thận cấp tính đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng rosuvastatin với tất cả các liều và đặc biệt với liều > 20 mg.

Tăng mức CK liên quan đến liều đã được quan sát thấy ở bệnh nhân dùng rosuvastatin. Đa số các trường hợp đều nhẹ, không có triệu chứng và thoáng qua. Nếu nồng độ CK tăng (> 5 x ULN), nên ngưng thuốc (xem phần Thận trọng).

Ảnh hưởng trên gan: Cũng như các thuốc ức chế HMG-CoA reductase khác, tăng liên quan đến liều transaminase đã được quan sát ở một số ít bệnh nhân dùng rosuvastatin. Đa số các trường hợp đều nhẹ, không có triệu chứng và thoáng qua.

Các tác dụng phụ sau đây đã được báo cáo ở một số thuốc statin:

Rối loạn chức năng tình dục.

Ngoại trừ trường hợp của bệnh phổi mô kẽ, đặc biệt là với điều trị lâu dài (xem Phần Thận trọng).

Tỷ lệ báo cáo bệnh tiêu cơ vân, biến cố thận gan nghiêm trọng (chủ yếu gồm: Tăng transaminase gan) cao hơn ở liều 40 mg.

Dân số trẻ em: Creatin kinase tăng > 10 x ULN và triệu chứng cơ bắp sau tập thể dục hoặc tăng hoạt động thể chất được quan sát thấy thường xuyên hơn trong 52 tuần thử lâm sàng ở trẻ em và thanh thiếu niên so với người lớn (xem mục Thận trọng).

Trong khía cạnh khác, tính an toàn của rosuvastatin tương tự ở trẻ em và thanh thiếu niên so với người lớn.

Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Thông báo cho bác sĩ biết các tác dụng không mong muốn gặp phải trong quá trình điều trị.

Lưu ý khi sử dụng

  • Phụ nữ cho con bú
  • Phụ nữ có thai

Bảo quản

Hạn sử dụng: 36 tháng

Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.

Để xa tầm tay trẻ em.