Thuốc tiêm Toujeo Solostar 300U/ml Sanofi điều trị đái tháo đường (5 cây)

  • Muaday.vn
  • 26 Tháng 01 2026
  • 40 phút
Thuốc tiêm Toujeo Solostar 300U/ml Sanofi điều trị đái tháo đường (5 cây)
Mô tả

Toujeo Solostar 300 U/ml Sanofi dạng dung dịch tiêm được sản xuất bởi Sanofi - Aventis GmbH có thành phần chính là Insulin Glargine. Toujeo Solostar dùng để điều trị đái tháo đường ở người lớn.

Danh mục Thuốc
Thương hiệu Pháp Sanofi
Số đăng ký 400410304624
Dạng bào chế Dung dịch tiêm trong bút tiêm nạp sẵn
Quy cách Hộp 5 Cây
Thành phần Insulin Glargine
Nhà sản xuất Đức
Nước sản xuất Pháp
Thuốc cần kê toa

Thành phần của Thuốc tiêm Toujeo Solostar 300U/ml

Thông tin thành phần Hàm lượng
Insulin Glargine 300ui

Công dụng của Thuốc tiêm Toujeo Solostar 300U/ml

Chỉ định

Toujeo Solostar được chỉ định dùng để điều trị đái tháo đường ở người lớn.

Dược lực học

Cơ chế tác động

Hoạt tính chính của insulin, kể cả insulin glargine, là điều hòa sự chuyển hóa glucose. Insulin và các chất tương đồng của nó hạ thấp nồng độ glucose trong máu bằng cách kích thích sự thu nạp glucose ngoại biên, đặc biệt là ở cơ vân và mỡ, và bằng cách ức chế sự sản xuất glucose ở gan.

Insulin ức chế sự phân giải mỡ trong tế bào mỡ, ức chế sự phân giải protein và tăng cường tổng hợp protein.

Tác dụng dược lực

Insulin glargine là một chất tương đồng insulin người được thiết kế để có độ hòa tan thấp ở pH trung tính. Ở pH 4, insulin glargine tan hoàn toàn. Sau khi tiêm vào mô dưới da, dung dịch có tính acid được trung hòa, dẫn đến sự hình thành một kết tủa từ đó phóng thích liên tục những lượng nhỏ insulin glargine.

Như đã thấy trong các nghiên cứu kẹp glucose trên bệnh nhân đái tháo đường týp 1, tác dụng hạ glucose của Toujeo tỏ ra ổn định và kéo dài hơn so với insulin glargine 100 đơn vị/mL sau khi tiêm dưới da. Hình 1 trình bày kết quả từ một nghiên cứu đổi chéo trên 18 bệnh nhân đái tháo đường týp 1 được thực hiện trong tối đa 36 giờ sau tiêm. Tác dụng của Toujeo vượt quá 24 giờ (lên đến 36 giờ) ở những liều có ý nghĩa lâm sàng.

Sự phóng thích insulin glargine từ tủa Toujeo kéo dài hơn so với insulin glargine 100 đơn vị/mL có thể quy cho việc giảm hai phần ba thể tích tiêm, làm cho tủa có diện tích bề mặt nhỏ hơn.

Dược lực học Toujeo Solostar

Insulin glargine được chuyển hóa thành 2 chất chuyển hóa có hoạt tính M1 và M2.

Gắn thụ thể insulin: Các nghiên cứu in vitro cho thấy ái lực của insulin glargine và các chất chuyển hóa M1 và M2 của nó đối với thụ thể insulin người tương tự như ái lực của insulin người.

Gắn thụ thể IGF-1: Áp lực của insulin glargine đối với thụ thể IGF-1 người lớn hơn khoảng 5 đến 8 lần áp lực của insulin người (nhưng thấp hơn ái lực của IGH-1 khoảng 70 đến 80 lần), trong khi đó M1 và M2 gắn vào thụ thể IGF-1 với áp lực hơi thấp hơn so với insulin người.

Tổng nồng độ trị liệu của insulin (insulin glargine và các chất chuyển hóa của nó) trên bệnh nhân đái tháo đường týp 1 thấp hơn rõ rệt so với nồng độ cần thiết để chiếm phân nửa thụ thể IGF-1 và qua đó hoạt hóa đường tăng sinh mitogen do thụ thể IGF-1 khởi xướng. Nồng độ sinh lý của IGF-1 nội sinh có thể kích hoạt đường tăng sinh mitogen; tuy nhiên, nồng độ trị liệu trong liệu pháp insulin, bao gồm liệu pháp Toujeo, thấp hơn đáng kể so với nồng độ dược lý cần thiết để kích hoạt đường IGF-1.

Trong một nghiên cứu dược lý lâm sàng, insulin glargine tiêm tĩnh mạch và insulin người cho thấy độ mạnh như nhau khi được dùng ở cùng một liều.

Như tất cả các insulin khác, thời gian tác động của insulin glargine có thể bị ảnh hưởng bởi hoạt động thể lực
và các biến số khác.

Cơ chế tác dụng:

Insulin ngoại sinh thường có tất cả các tác dụng dược lý của insulin nội sinh. Insulin kích thích chuyển hóa carbohydrat ở mô cơ - xương, tim và mỡ bằng cách tạo thuận lợi cho quá trình vận chuyển glucose vào trong tế bào. Mô thần kinh, hồng cầu, và các tế bào ở ruột, gan và ống thận không cần insulin để vận chuyển glucose. Ở gan, insulin tạo thuận lợi cho phosphoryl hóa glucose thành glucose-6-phosphat, chất này được chuyển thành glycogen hoặc chuyển hóa tiếp.

Insulin cũng tác dụng trực tiếp đến chuyển hóa mỡ và protein. Hormon này kích thích tạo mỡ và ức chế tiêu mỡ và giải phóng acid béo tự do từ các tế bào mỡ. Insulin cũng kích thích tổng hợp protein.

Cho insulin với liều thích hợp cho người đái tháo đường týp 1 (phụ thuộc insulin) phục hồi nhất thời khả năng chuyển hóa carbohydrat, mỡ và protein, để dự trữ glucose ở gan và để chuyển glycogen thành mỡ. Khi insulin với liều thích hợp cho cách đều nhau cho người đái tháo đường, nồng độ hợp lý glucose trong máu được duy trì, nước tiểu tương đối không có glucose và chất ceton, ngăn chặn được nhiễm toan đái tháo đường, hôn mê.

Tác dụng của insulin bị đối kháng bởi somatropin (hormon tăng trưởng), epinephrin, glucagon, hormon vỏ tuyến thượng thận, tuyến giáp và estrogen. Insulin kích thích kali và magnesi chuyển vào trong tế bào, do đó tạm thời làm giảm nồng độ tăng cao của các ion đó.

Dược động học

Hấp thu và phân bố

Trên người khỏe mạnh và bệnh nhân đái tháo đường, sau khi tiêm dưới da Toujeo cho thấy nồng độ insulin trong huyết thanh hấp thu chậm hơn và kéo dài hơn, tạo nên một đường cong nồng độ theo thời gian phẳng hơn, so với insulin glargine 100 đơn vị/mL.

Đặc tính dược động học phù hợp với hoạt tính được lực của Toujeo. Nồng độ đạt được trạng thái ổn định trong phạm vi trị liệu sau 3-4 ngày sử dụng Toujeo hàng ngày. Sau khi tiêm dưới da, Toujeo có tỉ lệ biến thiên trong cá thể, được định nghĩa là hệ số biến thiên của mức phơi nhiễm insulin trong 24 giờ, ở mức thấp (17,4%) trong trạng thái ổn định nồng độ.

Biến đổi sinh học

Sau khi tiêm dưới da, insulin glargine được nhanh chóng chuyển hóa ở đầu tận carboxyl của chuỗi beta với sự  hình thành hai chất chuyển hóa có hoạt tính M1 (21A-Gly-insulin) và M2 (21A-Gly-des-30B-Thr-insulin).

Trong huyết tương, hợp chất chính là chất chuyển hóa M1. Sự phơi nhiễm với M1 tăng theo liều insulin glargine được dùng. Các kết quả dược động học và dược lực học chỉ ra rằng tác dụng của insulin glargine  tiêm dưới da chủ yếu dựa trên mức phơi nhiễm với M1. Trên đại đa số bệnh nhân, không phát hiện được insulin glargine và chất chuyển hóa M2, và khi có thể phát hiện được thì nồng độ của chúng tỏ ra không phụ thuộc liều dùng và công thức bào chế của insulin glargine.

Thải trừ

Khi tiêm tĩnh mạch, thời gian bán thải của insulin glargine và insulin người tương tự nhau.

Thời gian bán thải của Toujeo sau khi tiêm dưới da được xác định bởi tốc độ hấp thu từ mô dưới da. Thời gian bán thải của Toujeo sau tiêm dưới da là 18-19 giờ và độc lập với liều dùng.

Cách dùng Thuốc tiêm Toujeo Solostar 300U/ml

Cách dùng

Trước khi tiêm Toujeo:

  • Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trong tờ hướng dẫn.
  • Nếu không tuân thủ tất cả những hướng dẫn này, có thể tiêm quá nhiều hoặc quá ít insulin.

Toujeo được tiêm dưới da.

Tiêm vào mặt trước đùi, cánh tay, hoặc trước bụng.

Mỗi ngày nên thay đổi vị trí tiêm trong vùng tiêm đã chọn. Làm vậy sẽ giảm nguy cơ teo da hoặc dày da.

Để đề phòng khả năng lây bệnh, không bao giờ dùng bút tiêm insulin cho nhiều hơn một người, ngay cả khi đã thay kim.

Luôn luôn phải gắn một kim mới vô khuẩn trước mỗi lần tiêm. Đừng bao giờ dùng lại kim tiêm. Dùng lại kim tiêm làm tăng nguy cơ nghẹt kim và vì thế có thể gây non liều hoặc quá liều insulin.

Kim đã sử dụng phải được thải bỏ trong thùng chứa vật sắc nhọn hoặc theo sự chỉ dẫn của dược sỹ hay qui định của địa phương.

Hướng dẫn sử dụng Toujeo Solostar

Hướng dẫn sử dụng Toujeo Solostar

Hướng dẫn sử dụng Toujeo Solostar

Liều dùng

Bút tiêm nạp sẵn Toujeo SoloStar có thể tiêm được liều từ 1 đến 80 đơn vị trong mỗi lần tiêm, điều chỉnh từng nấc 1 đơn vị. Cửa sổ chỉ liều trên bút tiêm SoloStar cho thấy số đơn vị Toujeo được tiêm. Không cần tính lại liều lượng.

Dựa vào lối sống, kết quả xét nghiệm đường huyết và việc sử dụng insulin trước đây sẽ cho biết:

  • Cần dùng bao nhiêu Toujeo mỗi ngày và vào giờ nào.
  • Khi nào cần kiểm tra đường huyết, và có cần xét nghiệm nước tiểu hay không.
  • Khi nào cần tiêm liều cao hơn hoặc thấp hơn.
  • Toujeo là insulin tác động dài. Có thể cho dùng thuốc này kèm với một insulin tác động ngắn, hoặc với các thuốc chống đái tháo đường khác.
  • Nếu dùng nhiều hơn một loại insulin, luôn luôn phải bảo đảm dùng đúng loại insulin bằng cách kiểm tra nhãn insulin trước mỗi lần tiêm.
  • Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức đường huyết. Cần biết những yếu tố này để có thể phản ứng đúng đắn với những thay đổi của mức đường huyết và đề phòng đường huyết quá cao hoặc quá thấp.

Giờ tiêm thuốc linh hoạt:

  • Tiêm Toujeo mỗi ngày một lần tốt nhất vào cùng một giờ mỗi ngày.
  • Khi cần, có thể tiêm trong vòng 3 giờ trước hoặc sau giờ tiêm thuốc thường lệ.

Sử dụng trên bệnh nhân cao tuổi (65 tuổi trở lên): Có thể cần dùng liều thấp hơn.

Nếu có bệnh gan hoặc bệnh thận: Có thể cần dùng liều thấp hơn.

Làm gì khi quá liều?

Nếu đã tiêm quá nhiều Toujeo, mức đường huyết có thể giảm quá thấp. Bệnh nhân nên kiểm tra đường huyết và ăn nhiều hơn để đề phòng hạ đường huyết. 

Triệu chứng cảnh báo hạ đường huyết.

Những dấu hiệu đầu tiên thường là triệu chứng toàn thân. Những vi dụ về triệu chứng cho biết đường huyết đang giảm quá nhiều hoặc quá nhanh gồm có: Vã mồ hôi, da ẩm ướt, lo sợ, tim đập nhanh hoặc không đều, tăng huyết áp và đánh trống ngực. Những dấu hiệu này thường xảy ra trước khi có dấu hiệu hạ đường huyết ở não.

Những dấu hiệu hạ đường huyết ở não gồm có: Nhức đầu, đói cồn cào, buồn nôn, ói mửa, mệt mỏi, buồn ngủ, bứt rứt, rối loạn giấc ngủ, ưa gây gổ, khó tập trung, chậm phản ứng, trầm uất, lơ mơ, nói khó (đôi khi mất tiếng nói), rối loạn thị giác, run, yếu liệt, cảm giác châm chích ở bàn tay và tay, tê rần hoặc cảm giác kim châm quanh miệng, hoa mắt, mất kiềm chế, không thể tự chăm sóc bản thân, co giật, mất tri giác.

Khi nào dấu hiệu hạ đường huyết kém rõ ràng hơn:

Những dấu hiệu cảnh báo đầu tiên của hạ đường huyết có thể thay đổi, ít rõ ràng hơn hoặc thậm chí không có nếu:

  • Là người cao tuổi.
  • Bị bệnh đái tháo đường đã lâu.
  • Có một số bệnh lý thần kinh do đái tháo đường (gọi là “bệnh lý thần kinh thực vật đái tháo đường").
  • Gần đây đã bị hạ đường huyết (ví dụ ngày hôm trước).
  • Hạ đường huyết diễn ra chậm chạp.
  • Đường huyết lúc nào cũng gần “bình thường" hoặc được cải thiện đáng kể.
  • Mới đổi từ insulin động vật sang dùng insulin người, chẳng hạn như Toujeo.
  • Đã 1 hoặc đang dùng một số thuốc khác (xem mục "Tương tác").

Trong trường hợp đó, bệnh nhân có thể bị hạ đường huyết nặng (thậm chí bị ngất) trước khi ý thức được vấn đề đang xảy ra. Bệnh nhân nên học cách nhận biết những triệu chứng báo động.

Nếu cần, việc thường xuyên xét nghiệm đường huyết có thể giúp nhận ra những đợt hạ đường huyết nhẹ. Nếu thấy khó nhận biết các dấu hiệu báo động của minh, bệnh nhân nên tránh những tình huống (vi dụ lái xe) mà có thể gây nguy hiểm cho bản thân hoặc cho người khác vì hạ đường huyết.

Cần phải làm gì khi hạ đường huyết?

Không được tiêm insulin: Dùng ngay 10-20 g đường, ví dụ glucose, đường viên hoặc nước ngọt. Không uống hoặc ăn thức ăn chứa đường hóa học (như thức uống dành cho người ăn kiêng). Chúng không giúp điều trị hạ đường huyết.

Rồi ăn một chút gì đó (ví dụ bánh mì) có tác dụng tăng mức đường huyết một thời gian dài. Bệnh nhân nên hỏi bác sỹ hoặc y tá nếu không biết chắc nên ăn thứ gì. Với Toujeo, thời gian để hồi phục hạ đường huyết sẽ lâu hơn vì nó là thuốc có tác dụng dài.

Nếu lại xảy ra hạ đường huyết, phải dùng lại 10-20 g đường.

Bệnh nhân nên báo ngay cho bác sỹ biết nếu không thể kiểm soát được tình trạng hạ đường huyết hoặc nó tái diễn.

Làm gì khi quên liều?

Nếu quên dùng Toujeo, có thể tiêm Toujeo trong vòng 3 giờ trước hoặc sau giờ tiêm thuốc thường lệ khi cần.

Nếu bỏ sót một liều Toujeo hoặc không tiêm đủ liều insulin, mức đường huyết có thể tăng khá cao (tăng đường huyết). 

Lưu ý:

  • Không được tiêm liều gấp đôi để bù vào liều quên dùng.
  • Kiểm tra đường huyết và tiêm liều kế tiếp vào giờ thường lệ.

Tăng đường huyết (nồng độ đường trong máu cao)

Nếu đường huyết quá cao (tăng đường huyết), có thể bệnh nhân không tiêm đủ insulin.

Lý do xảy ra tăng đường huyết:

  • Không tiêm hoặc tiêm không đủ liều insulin.
  • Insulin trở nên kém hiệu quả, ví dụ như do bảo quản không đúng cách.
  • Bút tiêm insulin không hoạt động bình thường.
  • Ít tập thể dục hơn thường lệ.
  • Đang bị stress như đau buồn, phấn khích.
  • Bị chấn thương, nhiễm khuẩn, sốt hoặc phẫu thuật.
  • Đã hoặc đang dùng một số loại thuốc khác (xem mục "Tương tác”).

Các triệu chứng cảnh báo tăng đường huyết

Khát nước, đi tiểu nhiều, mệt, da khô, mặt đỏ, chán ăn, hạ huyết áp, tim đập nhanh, nước tiểu có glucose và thể ceton. Đau dạ dày, thở nhanh và sâu, buồn ngủ hoặc thậm chí mất tri giác là những dấu hiệu của tình trạng nặng (nhiễm toan ceton) do thiếu insulin.

Cần làm gì khi bị tăng đường huyết?

Hãy đo lượng đường trong máu và ceton trong nước tiểu càng sớm càng tốt khi xảy ra bất kỳ dấu hiệu nào nói trên.

Liên lạc ngay với bác sỹ nếu bị tăng đường huyết nặng hoặc nhiễm toan ceton. Tình trạng này phải luôn luôn cần sự điều trị của bác sỹ, thường là trong bệnh viện.

Tác dụng phụ

Như tất cả các thuốc khác, Toujeo có thể gây tác dụng phụ, tuy không phải ai cũng gặp.

Nếu để ý thấy những dấu hiệu của mức đường huyết quá thấp (hạ đường huyết), bệnh nhân nên hành động ngay để tăng mức đường huyết.

  • Hạ đường huyết có thể rất nghiêm trọng và rất hay gặp khi điều trị insulin (có thể xảy ra ở 1/10 số bệnh nhân).
  • Mức đường huyết thấp nghĩa là không có đủ chất đường trong máu.
  • Nếu đường huyết giảm quá thấp, có thể bị bất tỉnh (mất tri giác).
  • Hạ đường huyết nặng có thể gây tổn thương não và đe dọa tính mạng.

Phản ứng dị ứng nặng (hiếm gặp, xảy ra ở ≤1/1000 số bệnh nhân).

Dấu hiệu có thể là nổi mẩn và ngứa toàn thân, phù nề ở da hoặc miệng, khó thở, muốn ngất (tụt huyết áp) kèm nhịp tim nhanh và vã mồ hôi. Các phản ứng dị ứng nặng có thể đe dọa tính mạng. Bệnh nhân nên báo ngay cho bác sỹ nếu để ý thấy những dấu hiệu của phản ứng dị ứng nặng.

Các tác dụng phụ khác

Hay gặp: Xảy ra ở ≤1/10 số bệnh nhân.

  • Thay đổi trên da chỗ tiêm: Nếu tiêm insulin quá nhiều lần ở cùng một chỗ, da có thể bị nhăn nhúm (teo mỡ) hoặc dày lên (phì đại mỡ). Insulin sẽ không có tác dụng tốt. Thay đổi vị trí tiêm ở mỗi lần tiêm sẽ giúp đề phòng những thay đổi bất thường này.
  • Phản ứng da và dị ứng tại chỗ tiêm: Các dấu hiệu có thể là đỏ, đau quá mức khi tiêm, ngứa, nổi dát hoặc viêm. Phản ứng này có thể lan rộng quanh chỗ tiêm. Phần lớn những phản ứng nhẹ với insulin thường biến mất trong vòng vài ngày đến vài tuần.

Hiếm gặp: Xảy ra ở ≤1/1.000 số bệnh nhân.

  • Phản ứng mắt: Sự thay đổi lớn trong kiểm soát đường huyết (tốt hơn hoặc tệ hơn) có thể gây xáo trộn thị lực. Nếu có bệnh mắt liên quan với đái tháo đường gọi là “bệnh võng mạc tăng sinh”, cơn hạ đường huyết rất thấp có thể gây mất thị lực tạm thời.
  • Sưng bắp chân và cổ chân do tích tụ nước tạm thời trong cơ thể.

Rất hiếm: Xảy ra ở ≤1/10.000 số bệnh nhân.

  • Thay đổi vị giác (rối loạn vị giác).
  • Đau cơ.

Chống chỉ định

Dị ứng thuốc, Hạ đường huyết

Lưu ý khi sử dụng

Độ tuổi sử dụng: Trên 18 tuổi

  • Lái tàu xe
  • Phụ nữ có thai
  • Phụ nữ cho con bú
  • Tiểu đường

Bảo quản

Hạn sử dụng: 30 tháng

Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.

Để xa tầm tay trẻ em.